Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
QUÂN TỬ VÀ TIỂU NHÂN TRONG “LUẬN NGỮ”
Bài viết trình bày và phân tích sự phân loại con người theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu nhân của Nho giáo, chủ yếu là trên cơ sở quan niệm của Khổng Tử về quân tử và tiểu nhân trong Luận ngữ. Tác giả chỉ ra ba điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại người này: một là, trên phương diện làm theo đạo “Trung dung”; hai là, trên phương diện nhận thức về nghĩa và lợi; và ba là, trên phương diện thực hành đạo đức. Từ đó, bài viết chỉ ra ý nghĩa sâu xa của việc Nho giáo so sánh hai loại người này và mục đích giáo dục của Nho giáo.
Ra đời trong hoàn cảnh xã hội rối ren, loạn lạc, vô đạo, Nho giáo rất quan tâm đến việc củng cố trật tự và chế độ đẳng cấp trong xã hội. Ngay từ đầu, nó đã rất coi trọng việc phân loại con người, chỉ ra địa vị, phẩm chất và vai trò của từng hạng người trong xã hội, đặc biệt với việc nêu bật sự khác nhau giữa chúng. Từ đó, nó vạch ra chính sách cai trị, chính sách dùng người, giáo dục và đào tạo con người cho phù hợp.
Trong chế độ xã hội lúc đó, do sản xuất còn ở trình độ thấp nên sự phân công lao động chưa phát triển. Tuy nhiên, Nho giáo đã đưa ra nhiều kiểu phân loại con người dựa trên những cơ sở và tiêu chuẩn khác nhau, tạo ra những mẫu người khác nhau để phần nào đáp ứng được những yêu cầu nhất định của xã hội trong từng mặt, từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ, Nho giáo đã đưa ra những mẫu người như: bậc thánh, bậc thiện nhân, bậc hữu hằng, bậc thứ tri, bậc thành nhân, kẻ sĩ, kẻ cuồng và kẻ quyến… Nhưng, trong các kiểu phân loại đó, Nho giáo chú trọng nhất đến sự phân loại theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu nhân, trượng phu và thất phu; theo tiêu chuẩn chính trị thành hệ thống tước vị xã hội (gồm vua và hệ thống quan lại); theo tính chất công việc thành người lao lực và lao tâm. Ngoài ra, Nho giáo còn có cách phân loại theo năng lực, theo bản tính trời phú và theo sự tự rèn luyện của con người. Nhưng, xét đến cùng, tư tưởng bao trùm vẫn là đề cao sự phân loại theo tiêu chuẩn đạo đức, vì nó làm rõ được sự đánh giá về con người và khuynh hướng tư tưởng của họ. Cách phân loại đó khiến cho người ta hướng về người quân tử, xa lánh kẻ tiểu nhân, hướng con người đến cái thiện và xa lánh cái ác.
Phân loại con người theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu nhân là cách phân loại đặc trưng nhất, được đề cập đến nhiều nhất trong Luận ngữ. Người ta thường nói, đạo Nho là đạo của người quân tử. Bởi vì, Nho giáo bàn rất nhiều về người quân tử, coi đó là mẫu người lý tưởng, toàn thiện, toàn mỹ nhất. Mọi sự cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức đều nhằm đạt đến danh hiệu cao quý ấy. Đó cũng chính là mục đích mà nền giáo dục Nho giáo hướng tới.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo của người quân tử, như Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng của Phạm Quỳnh; Kinh Dịch - Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê; Trần Trọng Kim bàn về người quân tử trong cuốn Nho giáo, v.v.. Nhìn chung, các tác phẩm đó đã đề cập tương đối toàn diện về người quân tử và xem xét trên nhiều khía cạnh, nhiều phương diện khác nhau. Nhưng, mặt đối lập với nó là kẻ tiểu nhân thì lại chưa có được một sự quan tâm, tìm hiểu thích đáng, mặc dù việc nghiên cứu về kẻ tiểu nhân sẽ làm nổi bật hơn vai trò và tính cách của người quân tử.
Lúc đầu, quân tử được hiểu là người có địa vị tôn quý, còn tiểu nhân là người dân thường, không có địa vị xã hội. Về sau, nghĩa của từ được dùng rộng ra và theo những tiêu chuẩn đạo đức là chính, khi đó quân tử được coi là người có đức hạnh cao quý, còn tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ, thấp kém. Theo nghĩa đó, người quân tử dẫu bần cùng, khổ sở thì vẫn là người có chí khí quân tử. Kẻ tiểu nhân tuy có quyền cao, chức trọng, cũng vẫn là kẻ tiểu nhân. Khổng Tử nói rằng: "Ăn cơm thô, uống nước suông, co cánh tay mà gối đầu, niềm vui cũng có ở trong đó. Còn bất nghĩa mà được giàu sang thì đối với ta chỉ như phù vân" (Phan sơ tự, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú tha quý, ư ngã như phù vân)(1). Tuy cùng học đạo thánh hiền, nhưng có người là Nho quân tử, có người lại là Nho tiểu nhân. Nho quân tử là những người học rộng mà có khí tiết, học đạo thánh hiền mà ăn ở theo bậc thánh hiền. Còn những người học rộng mà không có khí tiết, không có liêm sỉ, học đạo thánh hiền mà không noi gương các bậc thánh hiền thì gọi là Nho tiểu nhân. Với ý nghĩa đó, tiểu nhân không phải toàn là những người không có địa vị xã hội, không có học thức. Những người quyền cao chức trọng nhưng đạo đức kém cỏi, chí khí hèn nhát, mượn tiếng học đạo thánh hiền để mưu cầu danh lợi, luôn nói đạo đức nhưng lại làm toàn những chuyện bất nhân, bất nghĩa thì cũng vẫn chỉ là Nho tiểu nhân mà thôi. Bởi vậy, Khổng Tử khuyên học trò của mình là Tử Hạ chỉ nên làm nhà Nho quân tử, chứ đừng làm nhà Nho tiểu nhân.
Sự phân biệt giữa quân tử và tiểu nhân không chỉ ở địa vị xã hội, ở học thức, mà cái chính là ở phẩm chất đạo đức, ở phong cách sống và thái độ ứng xử, ở mục đích và lý tưởng sống. Trên phương diện này, tính cách của quân tử và tiểu nhân đối lập nhau hoàn toàn, không thể dung hoà được. Người quân tử luôn tôn cao phẩm giá của mình trong mọi hoàn cảnh. Còn kẻ tiểu nhân trong lúc thái quá hay trong cơn bất cập thường đánh mất nhân phẩm của mình. Trong Luận ngữ, Khổng Tử đã nhiều lần so sánh giữa quân tử với tiểu nhân. Qua sự so sánh đó, có thể rút ra những điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại người này như sau:
Thứ nhất, quân tử là người chuyên cần học đạo thánh hiền, học rộng hiểu sâu, tôn trọng đạo "Trung dung". Còn kẻ tiểu nhân luôn đam mê theo vật dục, trông chờ, nhờ cậy vào người khác và luôn làm trái với đạo "Trung dung".
Theo Khổng Tử, "Người quân tử trông cậy ở mình, tiểu nhân trông cậy ở người" (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân)(2). Theo ông, con người trước hết phải lo tự mình tạo lập cho bản thân mình trên cơ sở của sự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, chịu khó học tập, trau dồi về đạo lý và đức hạnh. Bản thân ông là một tấm gương sáng về sự kiên trì, nỗ lực học tập suốt đời. Ông coi đó là những điều kiện tiên quyết của sự thành đạt, nhưng cũng không bỏ qua sự tác động của những yếu tố khách quan, như "thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Trên cơ sở những phẩm chất tốt đẹp và có chí khí, người quân tử tin tưởng ở bản thân mình, tự mình làm nên sự nghiệp, "dương danh hiển thân". Còn kẻ tiểu nhân, do ý chí nhu nhược nên luôn tìm cách dựa dẫm vào người khác để thoả mãn tham vọng của mình.
Người quân tử do kiên trì, nỗ lực học tập đạo lý nên đức ngày càng cao, hiểu biết đạo lý ngày càng uyên thâm, hành động ngày càng thuần thục, hợp đạo lý. Nhờ đó, người quân tử lập được công danh, sự nghiệp, đạt được địa vị cao trong xã hội, đảm đương những công việc chính trị có hiệu quả. Còn kẻ tiểu nhân, vì lười biếng học tập, tu thân nên không thể tiến bộ được. Kẻ tiểu nhân làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân trước hết nên không được tín nhiệm, nếu có địa vị thì làm việc không có hiệu quả. Khổng Tử đã nhận xét rằng: "Quân tử thông đạt về nhân nghĩa, tiểu nhân thông đạt về tài lợi" (Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt)(3).
Theo Khổng Tử, "Người quân tử thì trung dung, kẻ tiểu nhân thì phản trung dung" (Quân tử trung dung, tiểu nhân phản trung dung)(4). Người quân tử ham học đạo lý để tiến đức, sửa nghiệp, thông hiểu được cái lý lẽ cao xa, vi diệu, rồi chọn lấy cái vừa phải mà theo. Họ luôn giữ cái tâm của mình ở mức giữa (mức trung), không chao đảo, thiên lệch, không để cho ngoại cảnh cám dỗ mà sa vào tư dục. Khổng Tử từng ca ngợi đạo "Trung dung" thật là tuyệt vời. Nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng, đã từ lâu, đạo ấy ít được người dân thực hiện. Người trí, người hiền thì chê mà chẳng giữ; người ngu, người thường thì ngán mà chẳng theo. Kẻ tiểu nhân vì chỉ biết cái lợi ích của bản thân nên biếng nhác, xao lãng cái đạo lý cao siêu đó và để cái tâm lệch khỏi đạo. Vì vậy, họ chỉ làm được những việc tầm thường, trái với đức trung dung.
Thứ hai, quân tử trọng nghĩa, phân biệt phải, trái một cách khách quan, công minh, không tư vị. Người quân tử luôn thoải mái, không kiêu căng, hống hách. Còn kẻ tiểu nhân chỉ coi trọng lợi, có lòng tư vị, không chính trực, nên trong lòng luôn lo lắng, không thoải mái. Khổng Tử nói rằng: "Quân tử hiểu rõ nghĩa, tiểu nhân biết rõ lợi" (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi)(5).
Đức "nghĩa" là một phạm trù đạo đức quan trọng trong đạo Nho, là một yếu tố cấu thành "ngũ thường". Mạnh Tử coi "nghĩa" là con đường to lớn hơn hết trong thiên hạ mà người quân tử, bậc đại trượng phu phải đi theo. Khổng Tử đánh giá rất cao đức "nghĩa" và chủ trương "Quân tử lấy nghĩa làm trên hết. Quân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn" (Quân tử nghĩa dĩ vi thượng. Quân tử hữu dũng, nhi vô nghĩa, vi loạn)(6). Ông kêu gọi "Người quân tử đối với mọi việc trong thiên hạ, không quy định phải làm như thế nào, cũng không quy định không được làm như thế nào, chỉ xét hợp nghĩa thì làm" (Quân tử chi ư thiên hạ giã, vô thích giã, vô mịch giã, nghĩa chi dữ tỷ)(7).
Nho giáo không đưa ra một định nghĩa kinh điển nào về "nghĩa". Tuỳ từng hoàn cảnh, đối tượng, mà việc giảng giải về "nghĩa" khác nhau. Tựu trung lại, có thể nói, phạm trù "nghĩa" bao gồm những cái cao thượng, chính trực, tốt đẹp và phù hợp với nhân và lễ. Làm điều "nghĩa" là để thi hành đạo nhân và giữ gìn lễ tiết. Bởi vậy, "nghĩa" được coi là cái gốc của mọi sự việc, còn người quân tử thì bao giờ cũng phải lấy "nghĩa" làm cái cốt yếu, cơ sở cho mọi suy nghĩ và hành động.
Đối lập với "nghĩa" là "lợi". "Lợi" (được hiểu là lợi ích, quyền lợi) thường gắn liền với tư dục, tham vọng... của con người. Nho giáo cho rằng, chỉ có kẻ tiểu nhân mới tham lợi, vì lợi mà quên cả nhân nghĩa. Khổng Tử so sánh: "Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến chỗ ở; quân tử quan tâm đến phép tắc, tiểu nhân quan tâm đến ân huệ" (Quân tử hoài đức, tiểu nhân hoài thổ. Quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ)(8). Thực chất, cả hai cách xử thế "trọng nghĩa khinh lợi" hay "trọng lợi, coi thường nghĩa" đều bộc lộ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý. Để có thể tồn tại được, người ta không thể không quan tâm đến quyền lợi của mình. Nhưng, nếu người ta quá đề cao nó, tuyệt đối hoá nó, coi lợi ích cá nhân là mục đích, là lẽ sống, là trên hết, thì lại là không đúng, là sa vào chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chỉ biết mình (như quan niệm của Dương Chu). Chủ nghĩa cá nhân sẽ sản sinh ra lối sống thực dụng như ở các nước tư bản hiện nay. Ngược lại, việc đề cao lợi ích xã hội, không quan tâm đến lợi ích cá nhân cũng sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại. Nó sẽ làm mất đi một động lực quan trọng của sự phát triển xã hội, đó là sự đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của cá nhân. Vì vậy, một quan điểm đúng đắn là phải biết kết hợp hài hoà giữa nghĩa và lợi, không thái quá, cũng không bất cập. Khổng Tử đã cảnh cáo rằng, những người chỉ làm theo lợi thì ắt có nhiều người oán thù. Ông cũng khuyên những người quân tử cầm quyền phải biết quan tâm đến lợi ích quốc gia, cũng như những lợi ích thiết thân của mỗi cá nhân.
Do trọng nghĩa, khinh lợi, làm việc thì công minh, chính trực, không tư vị nên người quân tử lúc nào cũng khiêm nhường, không kiêu ngạo, tâm trạng luôn thư thái và có thể hoà mình được với mọi người. Họ không mưu cầu danh lợi cho riêng mình nên cũng không bon chen, cầu cạnh, đấu đá, tranh giành. Trong phép xử thế, họ luôn giữ đạo "Hành - Tàng", nước có đạo thì ra làm quan, nước không có đạo thì về ở ẩn. Bởi vậy, "Quân tử thì thản nhiên thư thái" (Quân tử thản đãng đãng)(9); "thư thái mà không kiêu căng" (Thái nhi bất kiêu)(10), "hoà hợp chứ không hùa theo" (Hoà nhi bất đồng)(11). Ngược lại, kẻ tiểu nhân vì tham lợi mà làm càn, ích kỷ hại nhân, kéo bè kéo đảng để thực hiện tham vọng của mình, nên tâm trạng luôn căng thẳng, không thoải mái. Kẻ tiểu nhân khi đắc chí thì kiêu căng, cao ngạo; khi thất thế thì lo sợ, tìm đủ mọi cách để dung thân. Vì vậy, "Tiểu nhân thì kiêu căng mà không thư thái" (Tiểu nhân kiêu nhi bất thái)(12) và "Tiểu nhân thường hay lo lắng, ưu sầu" (Tiểu nhân trường thích thích).
Thứ ba, quân tử là người có đạo đức, nhân nghĩa và muốn phổ cập đạo đức ấy trong thiên hạ. Họ có khả năng làm được những việc lớn, biết dùng người hiền tài, làm việc ngay thẳng, chính trực. Lúc bình thường cũng như trong cơn nguy khốn, họ luôn giữ vững đạo lý. Còn kẻ tiểu nhân thì không thể giúp người làm việc tốt, gặp lúc khốn khó thì hay làm việc càn quấy. Khổng Tử nói rằng: "Người quân tử mà phạm điều bất nhân, thì có; nhưng chưa từng có kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân" (Quân tử nhi bất nhân giả, hữu hỹ phù. Vị tiểu nhân nhi nhân giả giã)(13). Trong thực tế, con người không phải lúc nào cũng sáng suốt, minh mẫn, không phạm sai lầm. Bởi vậy, người quân tử có lúc phạm vào điều bất nhân cũng là dễ hiểu, vì "nhân vô thập toàn". Còn kẻ tiểu nhân thì không thể làm được điều nhân đức, vì họ luôn bị cái tư dục chi phối, luôn ghen ghét và đố kỵ, không muốn ai bằng mình.
Do có đức sáng và có lòng nhân, người quân tử muốn làm toả đức sáng trong thiên hạ. Họ sẵn sàng làm việc tốt và ngăn ngừa việc xấu, giúp mọi người sống đúng theo đạo "luân thường". Khổng Tử đã nhận xét rằng: "Người quân tử giúp người ta làm việc tốt, không giúp người ta làm việc xấu. Còn kẻ tiểu nhân thì trái lại" (Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị)(14).
Quân tử là người có tài năng, có thể làm được những công việc lớn. Cái sáng suốt của nhà cầm quyền là biết dùng người đúng khả năng, đúng công việc. Đối với người có tài đức - ví như người quân tử - thì nhà cầm quyền không nên giao cho họ những công việc nhỏ nhặt, vụn vặt, mà nên giao cho họ những công việc quan trọng. Còn với kẻ tiểu nhân, do tâm lý vụ lợi nên không đảm trách được những công việc lớn, song có thể làm tốt công việc nhỏ.
Dùng đúng người, đúng việc là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại, phát huy "sở trường", hạn chế "sở đoản" của mỗi người. Vì vậy, Nho giáo rất coi trọng thuật "dùng người". Theo Khổng Tử, kẻ làm quan tùy tài đức của mình mà thi thố giúp dân, giúp nước, chứ không chờ hội đủ các tài đức. Ông nói với Quý Khương Tử rằng, Trọng Do là người quả quyết, Tử Cống là người thông đạt lý sự, Nhiễm Hữu là người có nhiều tài nghệ… đều có thể ra làm quan được. Khổng Tử sợ nhất là những kẻ “ăn không ngồi rồi”, chẳng dụng tâm làm việc gì. Theo ông, đó là những con người mà xã hội cần phê phán và lên án. Khổng Tử còn nói rằng, người quân tử không bao giờ xa rời đạo, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Họ là những con người mà phú quý không thể cám dỗ, nghèo khó không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục được. Bản thân ông cũng đã nhiều lần gặp cảnh cùng khốn, nhưng đạo lý không hề suy suyển. Còn những kẻ tiểu nhân "cùng khốn thì làm càn" (Tiểu nhân cùng, tư lạm hỹ)(15).
Trên đây là những điểm khác nhau cơ bản về phương diện đạo đức và chính trị giữa quân tử và tiểu nhân. Đưa ra sự so sánh giữa hai loại người này, mục đích của Nho giáo là tôn cao địa vị, phẩm cách và vai trò của người quân tử, lấy đó làm mẫu người lý tưởng nhất. Mặt tích cực của sự phân loại đó là giúp con người hướng đến cái thiện, đến sự hoàn thiện phẩm giá và nhân cách, đồng thời phê phán và xa lánh cái xấu, cái ác, cái không hợp với đạo lý con người. Quan niệm này thể hiện rõ đạo làm người của Nho giáo. Tuy nhiên, sự phân loại thành quân tử và tiểu nhân cũng chỉ có tính chất ước lệ và tương đối, bởi để đạt đến mẫu người hoàn thiện, hoàn mỹ của Nho giáo không phải là giản đơn. Ngay cả những học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử, như Nhan Hồi, Tử Cống, Tăng Sâm, Trọng Do, Nhiễm Cầu, v.v. cũng chỉ mới đạt được một số tiêu chuẩn nào đó của người quân tử mà thôi. Vì vậy, quan niệm của Nho giáo về người quân tử ít nhiều mang tính không tưởng, phi thực tế. Có những kẻ đã mượn danh quân tử, khoác áo Nho quân tử để làm những việc đồi bại, phi nhân tính. Ranh giới phân biệt giữa quân tử và tiểu nhân cũng không phải là tuyệt đối và không thể vượt qua được. Mục đích giáo dục của Nho giáo là phổ cập những đức tính và phẩm chất của người quân tử cho tất cả mọi người. Để đạt được mục đích ấy, Nho giáo đã đề xuất nhiều biện pháp giáo dục khác nhau, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự nỗ lực rèn luyện, phấn đấu của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, Khổng Tử và các học trò của ông rất coi trọng việc "tu thân", tự sửa mình. Sự phân loại con người theo những tiêu chuẩn đạo đức như trên thể hiện rõ lập trường giai cấp của Nho giáo. Đó là, nó chỉ quan tâm tới việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của những con người thuộc tầng lớp trên của xã hội, những người có địa vị tề gia, trị quốc và có thể quyết định vận mạng của đất nước./.
--------------------------------------------------------------------------------
(*) Tiến sĩ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất.
(1) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngữ văn Hán Nôm, t.1 (Tứ thư, bản dịch Luận ngữ, Thuật nhi). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr.344.
(2) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.499.
(3) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.476.
(4) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.101.
(5) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.281.
(6) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.532.
(7) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.281.
(8) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.281.
(9) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.347.
(10) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.448.
(11) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.447.
(12) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.448.
(13) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.473.
(14) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.426.
(15) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., t.1, tr.496
TRẦN ĐÌNH THẢO
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
THUYẾT NHÂN, ÁI THÔNG, HÒA CỦA NHO NHA
Lễ kỷ niệm 2550 năm ngày sinh Khổng Tử sẽ được tổ chức long trọng tại quê hương ông - Khúc Phụ vào tháng 10/1999, nhưng từ đầu quý 11, các nhà nghiên cứu đã lần lượt viết bài trên các báo về ý nghĩa, giá trị của Nho học thời đại hiện nay. Bài viết sau đây là một ý kiếm trong số nói trên.
Học thuyết nhân của Nho gia có thể gọi là học thuyết nhân, ái, thông, hòa. Đó là tinh hoa của Nho học và tinh hoa này có thể cung cấp cơ sở tư tưởng quan trọng cho sự chuyển đổi và phát triển cao hơn của văn minh nhân loại.
Khổng Tử quy định nội hàm của nhân là ái nhân (yêu người). Còn Mạnh Tử cho đó là lòng trắc ẩn hoặc gọi là lương tâm. Nhân là một loại tình yêu của loài người, là sự đồng tình rộng lớn. Con người sinh ra trong tình yêu lớn lên trong tình yêu, bởi thế tất nhiên có lòng yêu, chỉ khác nhau ở rộng, hẹp, mạnh, yếu mà thôi. Nếu mất lòng yêu thì con người ấy cũng không còn nhân tính. Lòng nhân ái là viên đá làm nền cho mọi hành vi đạo đức. Bồi dưỡng ái tâm, mở rộng ái tâm là công trình nền tảng xây dựng văn minh, đạo đức. Đối với xây dựng luân lý phổ biến mà nói, nhiệm vụ cấp bách nhất, khó khăn nhất là mở rộng ái tâm ra toàn nhân loại. Thông thường, người ta không khó thực hiện yêu gia đình, yêu dân tộc, yêu quốc gia, yêu đồng đao song khó hơn là vượt khỏi những giới hạn đó để yêu nước khác, yêu dân tộc khác bởi vì họ cảm thấy quan niệm và quyền lợi hai bên có xung đột hoặc cách xa nhau quá, không liên quan gì với nhau. Thực ra lợi ích chung của nhân loại càng ngày càng lớn hơn mâu thuẫn và chia rẽ giữa họ do vậy, đề xướng tình yêu nhân loại càng có tính tất yếu. Nho gia nhấn mạnh “người trong bốn biển đều là anh em" coi thiên hạ như một nhà thì đời sống xã hội của loài người mới tiến tới hòa bình, ổn định.
Khổng Tử cho rằng kẻ nhân yêu người phải thể hiện bằng đạo trung, thứ. Nói theo cách khắng định thì đó là "kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân" (bản thân muốn đứng được trong xã hội thì cũng làm cho người khác đứng vững, bản thân muốn việc gì cũng thông suốt thì làm cho việc của người cũng thông suốt như thế), như vậy là trung. Nói theo cách phủ định thì “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì mình cũng không muốn thì chớ có đùn cho người khác) vậy là thứ. So với trung thì thứ có tính nền tảng và phổ biến hơn, là mực thước tối thiểu để xã hội loài người duy trì được trật tự bình thường. Đạo trung, thứ của Nho gia dùng tương đối nhiều vào việc tu dưỡng đạo đức cá nhân ngày nay, chúng ta nên mở rộng trung, thứ thành chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc chính trị giữa các dân tộc và quốc gia khiến cho trung, thứ khắp thế giới. Đặc biệt, đạo trung, thứ cần được thực hiện trong hành vi chính trị có như thế thì mọi tranh chấp quốc tế và xung đột ở từng miền mới dễ dàng giải quyết hoặc tránh được như vậy có lợi cho tất cả mọi người.
Đạo trung, thứ cần phối hợp với học thuyết thông hòa với hai quan niệm cơ bản: một là hòa, hai là thông. Hòa là sư thể hiện tinh thần nhân ái khi xử lý những khác biệt giữa con người, thông là con đường để thực hiện hòa. Không Tử nói: "Lê chi dụng, hòa vi qúy”. Quy định về lễ có làm người ta khác nhau nhưng không nên khiến người ta xa lánh, đối kháng nhau, mà nên giữ được quan hệ hài hòa giữa những sự khác nhau đó. Đạo nhân ái không đưa cái đơn phương cho người. không đòi hỏi người khác sống theo kiểu của mình mà tôn trọng tính đặc thù, tính độc lập của người khác, khiến đôi bên không đối kháng nhau mà phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau. Quan niệm hòa của Nho gia là một quan niệm đạo đức phù hợp nhất với nhân tính. Đó cũng là một quan niệm văn hóa và một quan niệm chính trị, bởi Nho gia chủ trương khoan đung về đạo đức đa dạng về văn hóa, hòa bình về chính trị. Nhờ quan niệm chủ hòa ấy của Nho gia mà Trung Quốc có truyền thống khoan dung, đôn hậu tốt đẹp, trong lịch sử từng có bách gia tranh minh. Nho và Đạo bổ trợ lẫn nhau ba đạo Nho, Phật, Lão dung hợp với nhau, không có bi kịch chiến tranh đổ máu vì tín ngưỡng bất đồng luôn giữ được thế cộng đồng đoàn kết, thống nhất giữa nhiều dân tộc. Đó chính là nhờ có cống hiến của Nho gia.
Quan niệm thông được nêu ra nhằm đối ứng với trạng thái tắc. Thông là đánh thông, liên hệ, bình đắng, cởi mở, giao lưu, hiểu biết lẫn nhau. Chu dịch cho rằng tinh thần dịch có thể "cảm hóa, thông suốt khắp thiên hạ". Một nhà tư tưởng thời cận đại là Đàm Tự Đồng có làm sách Nhân học, trong đó ông viết: " Thông là nghĩa đầu tiên của nhân là thông”, “hình tượng của thông là bình đẳng". Thông có bốn nghĩa: một là "thông trong, ngoài”, hai là "thông trên, dưới", ba là "thông nam, nữ", bốn là "thông người, ta”. Người nhân đương nhiên yêu người nhưng không thông thì chưa thật sự yêu. Xã hội tắc mà không thông thì nhất định là xã hội nghèo nàn, lạc hậu, ngu tối, tuy có ý nguyện yêu thương đấy nhưng không thực hiện được. Còn xã hội khai thông thì tất nhiên công, thương phát đạt chính trị thông dân chúng hòa, văn hóa, giáo dục phồn vinh, tự do bình đẳng. Cho nên mới có nhận định: "Phân biệt nhân và không nhân thì cần xem thông hay tắc". Từ đó có thể thấy rằng, quan niệm thông bao gồm cả dân chủ hóa về chính trị, quốc tế hóa về kinh tế, đa dạng hóa văn hóa, bình đẳng về nhân cách đạo đức. Từ góc độ luân lý mà xét, thông vừa là một thái độ đạo đức, vừa là phương pháp thực tiễn của đạo đức, thông có tinh thần hiện đại hơn cả những yêu cầu khác của đạo đức. Hòa là mục tiêu, thông là biện pháp thực hiện, vì hòa mà thông, thông rồi sau đó mới hòa, hai đằng kết hợp với nhau không thể cắt chia. Không thông hiểu thì không thực sự hài hòa được.
Ngày nay, vận dụng thông vào văn hóa tức là dùng đối thoại về văn minh để thay thế xung đột về văn minh, mở rộng giao lưu, học tập lẫn nhau cùng chung sức giữ gìn sự muôn màu muôn vẻ của cuộc sống tinh thần trên toàn thế giới. Vận dụng thông, hòa vào đạo đức nhân loại tức là phá bỏ tính hẹp hòi thích gây họa cho người, mở rộng lòng yêu nước, yêu dân tộc mình tới nước khác, dân tộc khác, thực hiện bác ái thực sự: ít nhất cũng uốn nắn lại tâm lý thù hận dân tộc hoặc nhóm người.
Thuyết nhân, ái, thông, hòa của Nho gia còn nên mở rộng thành triết học sinh thái nhân loại thời nay, dùng để xử lý mối quan hệ giữa xã hội loài người và hoàn cảnh tự nhiên. Nho gia hủ trương mở rộng lòng yêu đến vạn sự, vạn vật, để xuất tư tưởng "người nhân là cùng một thể với vạn vật trong thiên hạ". Người có lòng nhân thì tâm của họ không chỉ tương thông với nhân loại, mà còn tương thông với động vật và thực vật. Tấm lòng bác ái ấy là một phần không thể thiếu làm nên sự phát dục lành mạnh của nhân tính.
Như vậy, thuyết nhân, ái, thông, hòa của Nho gia có thể đạt tới ba loại hài hòa: hài hòa giữa người và thiên thiên, hài hòa giữa người với người, hài hòa trong nội tâm của con người. Ba loại hài hòa này gắn liền với hạnh phúc mai sau của nhân loại. Bởi vậy, đó là một học thuyết vĩ đại, xứng đáng được toàn thế giới tôn trọng và quan tâm, khiến cho học thuyết đó phát huy được tác dụng vốn có trong cuộc sống hiện thực.
Mậu Trung GiámTạp chí Tia sáng
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
MẠNH TỬ VÀ QUAN ĐIỂM NHÂN NGHĨA
Giáo sư Francois Jullien, Chủ tịch Viện quốc tế triết học là tác giả 10 tập chuyên luận so sánh triết học Trung Hoa và triết học Âu Châu đặc biệt chú ý là những công trình: xác lập cơ sở cho đạo đức, đối thoại của Mạnh Tử với một triết gia khai sáng (Grasset, 1995)… làm nổi bật vai trò cơ bản của triết học trong đối thoại giữa những nền văn hóa, đưa ra một phương pháp luận so sánh văn hóa Đông - Tây mới mẻ có thể trình bày vắn tắt như sau: “hiểu lý trí Châu Âu từ lý trí Trung Hoa và ngược lại”, “suy tư Trung Hoa bằng Châu Âu và ngược lại”. Sau đây là bản dịch Chương I của công trình xác lập cơ sở cho đạo đức.
Một ông vua băn khoăn không biết mình có đủ tài đức để bảo hộ dân chúng gây dựng nên nghiệp vương không. Để nhà vua tin ở khả năng của mình, một nhà hiền triết gợi nhắc lại một giai thoại về chính nhà vua. Một hôm vua đương ngồi trong đền bỗng thấy một người lôi một con bò qua cửa đền, con vật bị đưa đến noi hiến tế nó sẽ bị giết, đặng lấy máu làm lễ bôi chuồng. Trước bộ dạng nhớn nhác của con vật, giống như một kẻ vô tội bị giải tới nơi nhục hình, nhà vua không nỡ, bèn ra lệnh thả nó ra. Một viên quan hỏi: "Bỏ lệ lấy máu bôi chuồng sao"? Vua trả lời: "Sao lại bỏ? Hãy đem con dê mà thế vào”!
Chỉ chừng ấy, nhà hiền triết kết luận đủ để thấy rằng nhà vua có khả năng gây dựng nghiệp vương. Tuy vậy, giai thoại được kể mới nghe tưởng chừng như chọc vào nhà vua: với ý kiến đem con dê thay cho con bò, nhà vua bị chê là hà tiện và chính nhà vua chống chế một sự quy kết như vậy cũng thừa nhận cách xử sự của mình có chỗ không ổn. Bởi lẽ vì sao tha cho con bò mà lại không tha cho con dê, con này chẳng cũng vô tội như con kia hay sao? Nhà hiền triết lại phải làm sáng tỏ cái gì đã diễn ra trong lòng dạ nhà vua, điều này những người xung quanh và bản thân nhà vua không nhận biết được: nhà vua đã đề nghị một cách vô tư thay con bò bằng con dê, chẳng qua là vì ông đã "nhìn thấy" vẻ xớn xác của con bò còn con dê thì ông không "nhìn thấy". Đích thân ông được chứng kiến sự khủng khiếp của con bò: nó xuất hiện ra đột ngột trước mắt ông mà ông chẳng có một dự phòng vào cả, trong khi đó số phận của con dê ở ông chi là một ý niệm. Một ý niệm vô danh, trừu tượng và do đó không có hiệu quả Không có tác động của sự hiện diện mặt đối mặt - mắt nhà vua đã trợn ngược nhìn thấy sự khủng khiếp của con bò và từ đó không nhắm lại dược nữa. Chính vì vậy việc con dê bị làm vật hy sinh không làm cho nhà vua xao xuyến , trước sau ông xem sự việc này cũng là lẽ thường vậy. Còn đối với con bò, sự nhìn thấy đủ làm cho ông xúc động và tình lý trong nội tâm ông trong chốc lát bị xao động. Như vậy, nhìn chiều sâu, sự không nhất quán trong cách ứng xử mà nhà vua lấy làm hổ thẹn trên thực tế lại bộc lộ một phẩm giá đáng quý ở ông: nhà vua "không nỡ” đứng "nhìn" sự đau khổ, ông không thể làm một người chứng kiến dửng dưng với số phận của kẻ khác, ngay cả khi kẻ khác đó là một con vật. Và phản ứng trực tiếp này của lòng không nỡ đủ để chứng tỏ tâm hướng đạo đức của ông.
Giai thoại nói trên được thuật lại theo lời của Mạnh Tử, một nhà triết học Trung Hoa thế kỷ IV trước CN. Mạnh Tử khái quát hóa: "Người quân tử đối với chim chóc và thú vật, đã trông thấy chúng nó sống thì chẳng nỡ nhìn xem chúng nó chết, đã nghe chúng kêu la thì chẳng nỡ ăn thịt chúng nó". Châm ngôn này làm tôi nhớ đến: những con vịt thời bé chúng tôi đem thả vào một cái bể to, chúng tôi thích thú xem chúng nô giỡn, rồi một hôm một con chó cắn chết chúng và chúng tôi không nỡ đem vặt lông nấu ăn. Nhưng nhân danh cái gì mà không nỡ? Cái gì đã ngăn giữ chúng tôi không làm thịt những con vịt, sức mạnh nào đã đưa vào kinh nghiệm sống, sự phân định ranh giới cần thiết này, ranh giới này cũng tương đối thôi nhưng cuối cùng thi không thể chối từ được (và tác động của nó, một khi được minh định, trở thành điều căn cốt, hệ trọng). Tiếp theo giai thoại, Mạnh Tử có nhận xét "người quân tử nên ở xa nhà bếp và nơi mổ lợn, mổ gà" (nói một cách khác, lò sát sinh cần đặt nơi xa khuất). Nhận xét này xen vào đây (dễ bị lầm tưởng như một thành kiến của loại người sang trọng cao đạo) thực ra nhấn mạnh điều này: một khi có âm mưu đối với một sinh tồn khác (ngay cả một sinh tồn động vật) một khi có tác động của sự đối diện với sụ hiện hữu (dù là trong chốc lát) của một sinh tồn khác. Ta không thể nào dửng dưng được. Cũng phải thấy rằng trong lĩnh vực này, ví dụ được nêu lên không đơn thuần là một sự minh họa, nó có vai trò như hòn đá thử vàng: về chủ đề được tranh cãi quá nhiều này của đạo đức. chí có kinh nghiệm là bảo đảm cuối cùng và là căn cứ để sàng lọc các lý lẽ. Dĩ nhiên qua kinh nghiệm phải nắm được đạo đức trong sự căn cốt của nó và sự kiện được nêu lên phải là sự kiện không chối cãi được. Chính vì vậy Mạnh Tử có ý thức đưa ra một tình thế có tính điển hình: thấy một đứa trẻ con sắp té xuống giếng , ai cũng động lòng kinh sợ, thương xót, chạy bổ đến cứu đứa bé. Mà họ hành động như vậy "không phải vì tình giao kết với cha mẹ đứa trẻ mà muốn cho được thân thích hơn; cũng không phải vì muốn cho hàng xóm, bằng hữu khen tặng mình, lại cũng không phải vì tránh tiếng xấu là người bất nhân. Những đặc điểm của lòng không nỡ trước sự bất hạnh của người khác là: không có sự tính toán, không có sự nghĩ ngợi nào và sự phản ứng có tính chất tự phát. Không có lợi lộc nào xen vào động cơ, hành động cứu trợ ở ngoài sự giám sát của ý chí. Một tình thế như vậy đáng được nêu lên làm tình thế mẫu. Nó phơi trần ra một cách ứng xử tuyệt đối vô tư, trong đó cái cá nhân bị vượt qua: bất thần tôi không chủ động được nữa, tôi không làm chủ những cứu cánh ích ký của mình được nữa, chinh là bản thân sự sinh tồn, qua tôi, đương trỗi dậy vì người khác.
Như vậy được phơi bày ra ở trạng thái tự nhiên và tức thì điều mà không một lý lẽ nào có thể bác bỏ. Chứng cứ là những điều thuộc tập quán cổ xưa mà Mạnh Tử thuật lại, người đời xưa chưa có lệ chôn cất cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời, họ đem bỏ xác xuống hố. Ít hôm sau, đi qua, họ thấy chồn cáo xâu xé những cái thây, ruồi nhặng và ròi bọ đục khoét: toát mồ hôi trán, họ chỉ ngó nghiêng, không dám nhìn thẳng... Mồ hôi rịn ra trên mặt, "đó chẳng phải là tại họ xấu hổ với người khác", Mạnh Tử bình luận, sự phản ứng là từ sâu thẳm lòng họ. Họ bèn quay về nhà, mang thúng mủng cuốc xẻng tới, họ đào đất mà lấp thây cha mẹ. Việc mai táng, Mạnh Tử kết luận, không chỉ là một ước lệ: nó bộc lộ một mối liên hệ giữa các sinh tồn mả ngay cái chết cũng không xóa bỏ được. Mạnh Tử còn đưa ra một điều tế nhị là đối với những người đã "hóa thân" không để cho đất cát,chạm da. Chúng ta không nỡ dửng dưng trước những gì đe dọa người khác ngay cả khi họ đã chết.
Những ví dụ như vậy khiến ta nghĩ đến tính phổ biến của nguyên tắc "Người ta ai cũng có lòng thương xót, lòng chẳng nỡ đối với việc này hoặc việc khác" (Đ.T.C Mạnh Tử, t.thượng tr.273) từ đó Mạnh Tử suy ra: đem tấm lòng chẳng nỡ ấy (đối với người khác) phổ cập đến những điều mình còn nỡ (còn đang tâm đối với người khác), đó là "nhân" vậy. Cá nghĩa là đối với ai cũng vậy, có cái gì đó khiến mình, trong cơn hoạn nạn của người khác, không thể dửng dưng và gây ra phản ứng. Sự không dửng dưng này có nghĩa là ta không thể nào bình thản, “thoải mái", yên ổn" đứng trước nhũng gì bất hạnh đến với người khác (đối chiếu với cảm giác "bất an" trong lương tâm mà Khổng Tử đã từng nói đến). Đồng thời còn có khá nhiều điều bất hạnh trong cuộc sống người khác mà ta còn dửng dưng, thậm chí không hề quan tâm. Từ quan điểm Trung Hoa, luân lý đạo đức không đặt ra định đề nào cả, cũng không đưa ra giới luật và lời dạy nào cả, chẳng qua nó chỉ là sự mở rộng này: sự triển khai phản úng không nỡ (không chịu đụng nổi) tới tất cả những gì ta vẫn nỡ (vẫn đành chịu) trước sự cùng khốn của con người.
Mặt khác, với ai cũng vậy, có "những điều mình chẳng làm" (tức là mình không thèm làm): đem triển khai, mở rộng ý thức chẳng chịu làm, không thèm làm này tới những điều (đáng chê trách) mà mình vẫn cứ làm, đó là "nghĩa" vậy. Trên thực tế người không thèm "khoét vách", “trèo tường” để ăn trộm hàng xóm rất có thể giống nịnh hót nhà vua, không còn biết chính trực là gì nữa: "lúc chẳng nên nói thì lại thưa thốt" hoặc "lúc đáng nói thì lại ngậm miệng”. Sự bất lương "thưa thốt, ngậm miệng" này thực ra là cùng một "ruột" với sự ăn trộm trắng trợn nhất. Ngược lại, với kẻ "có khả năng khuyếch sung hình thức lương tâm ngăn ngừa trộm cắp" thì nguồn nghĩa ở anh ta là "vô tận".
Sự mở rộng này như là một nhân tố cấu thành của ý thức đạo đức được thực hiện theo hai chiều: trong bản thân chúng ta nó là sự triển khai của lòng không nỡ thỉnh thoảng ta cảm nhận được trước sự cùng khốn của người khác tới toàn bộ kinh nghiệm sống của chúng ta (hoặc đó là sự triển khai của những điều ta có sự quan tâm tới những người khác sang tất cả những gì ta chưa có sự quan tâm tới họ hoặc đó là sự triển khai tình cảm không chịu làm, không thèm làm tới tất cả những điều đáng chê trách mà ta vẫn cứ làm), ở ngoài chúng ta. nó là sự triển khai hướng tới những người khác, từ người gần nhất đến người xa nhất, bằng sự khuy ếch trương, bằng động tác của gương mẫu nêu lên cho họ (trước hết là gương mẫu được nêu lên từ bậc thiên tử). "Đẩy tới" (hoặc "triển khai"), "mở rộng khuyếch trương" (hoặc "khuyếch sung") đó là những chức năng then chốt trong sách Mạnh Tử. Bởi lẽ ý thức đạo đức cũng giống như ngọn lửa “nhen nhúm sắp cháy bùng", như dòng suối "phát tích sắp lưu thông". Chính vì vậy chỉ mỗi sự phản ứng không nỡ ở nhà vua lần ông thấy vẻ xốn xác của con bò bị lôi đi tới nơi hiến tế- miễn là tình cảm không nỡ này được khuyếch sung đầy đủ cũng đủ để nhà vua bình thiên hạ.
Hoàng Ngọc Yến
Tạp chí Tia sáng
Tạp chí Tia sáng
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
"NHÂN" TRONG LUẬN NGỮ CỦA KHỔNG TỬ
Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất.
Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai trò lịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận. Dường như mỗi một bước tiến mới của lịch sử thì từng vấn đề trong nội dung của Nho giáo lại được đề cập, xem xét lại và được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Có thể nói, một học thuyết ra đời cách đây hơn 2.500 năm đã được sự kiểm chứng của thời gian thì giá trị của nó về mặt lý luận và thực tiễn là điều chúng ta không dễ bỏ qua. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ muốn góp thêm tiếng nói về một khía cạnh mà, theo chúng tôi, mang tính tích cực và có ý nghĩa đối với chúng ta trong thời đại ngày nay. Đó là tư tưởng "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử.
Khái niệm "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới nội dung của khái niệm này trong Luận ngữ. Luận ngữ là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, tác phẩm này do nhiều người ghi và ra đời sớm nhất cũng là sau khi Khổng Tử đã mất chừng bảy mươi hoặc tám mươi năm. Chính vì vậy mà nhiều điều do Khổng Tử nói ra đã không được các học trò của ông ghi lại đầy đủ. Điều đó khiến chúng ta gặp không ít khó khăn khi nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử. Trong Luận ngữ có nhiều khái niệm được lặp lại nhiều lần. Chẳng hạn như khái niệm "Nhân"- 109 lần, khái niệm "Người quân tử"- 107 lần, khái niệm "Lễ" - 74 lần, khái niệm "Đạo", 60 lần. Do đó, trong giới nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nội đung của các khái niệm này.
"Nhân" trong Luận ngữ của Khổng Tử là một trong những khái niệm nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người lại cho rằng "Lễ" mới là nội đung cơ bản của tác phẩm và có người còn coi cả "Nhân" và "Lễ" đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Theo chúng tôi, quan niệm coi "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ, là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử - đó là quan niệm chính xác, đúng đắn. Chúng tôi đồng ý với quan niệm này không phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm "Nhân" được nhắc tới nhiều lần trong tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc lúc bấy giờ, Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà "Chiến tranh là phương thức phổ biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời". Trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi, mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suốt cuộc đời mình, Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề này. Ông nói: "Ta 15 năm tuổi để chí vào việc học (đạo), 30 tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm), 40 tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ), 50 tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được), 60 tuổi đã biết theo mệnh trời, 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý". Với một con người suốt đời "học không chán, dạy người không mỏi", lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lòng nhân rộng lớn biết bao.
Trong Luận ngữ, khái niệm "Nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. “Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. "Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả. Về điều này, Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là "trung thứ". "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó. "Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người.
Dù trong Luận ngữ có nhiều sự giải thích khác nhau về "Nhân", song sự giải thích trong thiên "Nhan Uyên" là có tính chất bao quát hơn cả. Có thể nói, ở đây "Nhân" trong quan niệm của Khổng Tử là "yêu người" (Luận ngữ, Nhan Uyên, 21). Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều "Nhân". "Nhân" là "yêu người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghét người". Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghét người". Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân mới thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3).
Có người cho rằng, "Nhân" (người) trong "ái nhân" (yêu người) là chỉ con người trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêu người trong giai cấp phong kiến. Thực ra, khái niệm "Nhân" (người) mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ'. Do đó, đi liền với "Nhân" (người) là các khái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân", "thánh nhân", "tiểu nhân"... Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau. "Thánh nhân" là người có đạo đức cao siêu, "tiểu nhân" là người có tính cách thấp hèn… "Nhân" ở đây là chỉ con người nói chung và "ái nhân" là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ.
Trong Luận ngữ, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm "Nhân" (yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả. Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ. Có lần một học trò của Khổng Tử là Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: "Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thì làm thế nào phân biệt được". "Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ. Lại một lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói gì tới ngựa cả. Điều đó cho thấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là sự sống còn của ngựa (tức là của cải). Tư tưởng "Nhân" là "yêu người" của ông thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc.
Coi "Nhân" là "yêu người", trong Luận ngữ, Khổng Tử đã dành không ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về "Nhân", Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân. Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?" (Luận ngữ, Nhan Uyên, l). Trọng Cung - một học trò khác của Khổng Tử hỏi về "Nhân", Khổng Tử cho rằng, những cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh của người nhân (Xem: Luận ngữ, Nhan Uyên, 2). Còn khi Phàn Trì hỏi về "Nhân", Khổng Tử giảng giải rằng, “khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung, khi làm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đức trung thành. Dẫu có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 19). Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Ông nói: "Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người" (Luận ngữ, Dương Hoá, 6). Không chỉ thế, người nhân, theo Khổng Tử, còn là người mà "trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả" (Luận ngữ, Ung dã, 20), và "người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 27). Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản. Do vậy, theo ông, người nhân "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân" (Luận ngữ, Lý nhân, 5).
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là "yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm người - sống với mình vả sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông. Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả dối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa... Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia". Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ...
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Nếu tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân của mình, không phân biệt riêng tư thì "Nhân" phân biệt mình và người, lấy mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt người tất, kẻ xấu. Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến"giao tương lợi". Tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Phật thương người và thương cả vạn vật. Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần chứ không phải ở trên cõi niết bàn. Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á thì nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng. Có thể nói "Nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đông của Châu Á này.
Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn năm một phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử. Nhờ có đường lối "nhân nghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững. Sự trì trệ của xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử.
Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước. Con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình. Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa. Xã hội ngày nay vẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con người này rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng. Do vậy, tư tưởng "Nhân" là yêu người của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huy tác dụng.
Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mối quan hệ. Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ có biết bao thảm kịch xảy ra. Một khi mỗi con người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tai nạn do khách quan đưa lại. Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa, mà còn đúng với cả xã hội ngày nay. Khi xã hội loài người đang trong quá trình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành "ngôi nhà chung", không còn có cộng đồng lớn hay nhỏ đứng ngoài "ngôi nhà chung" ấy, thì chúng ta càng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xây dựng một ngôi nhà chung mang một sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tín ngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung.
Có thể nói, phạm trù "Nhân" của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không còn phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý" của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm.
Nguồn: Tạp chí Triết học
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NỀN GIÁO DỤC THEO TINH THẦN NHO GIÁO
Khổng Tử - ông tổ của Nho gia, sống và hoạt động ở thời Xuân thu (1) một thời đại lịch sử mà các nhà Nho sau này đã phê phán là thời “đời suy đạo hỏng”, “vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con” đạo lý cương thường đảo ngược, thiên hạ đại loạn. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào những sự thực lịch sử không thể phản bác để chứng minh rằng đó là một thời kỳ có nhiều có biến chuyển lớn lao, ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt hoạt động của xã hội Trung Hòa cổ đại.
Nhìn chung, đó là thời kỳ mà hoa tộc (hạt nhân của Hán tộc sau này) đã hình thành do sự hỗn hợp nhiều chủng tộc khác nhau trên cơ sở dân cư miền trung nguyên (miền đất đai rộng lớn phì nhiêu nằm giữa phía nam Hoàng Hà và phía Bắc Trường Giang). Cương vực của Trung Hoa cổ đại đã ổn định sau các cuộc chiến tranh với nước ngoài và chiến tranh khiêm tính giữa các nước chư hầu; nông nghiệp, công thương nghiệp khá phát triển, văn hóa giáo dục vốn do quý tộc khống chế lũng đoạn đã dần dần truyền bá xuống các giai tầng khác trong xã hội và có đà phát triển mạnh mẽ. Quý tộc cũ (công thất) suy vi dần (do ăn chơi xa xỉ, do sát phạt lẫn nhau để tranh quyền đoạt lợi… ); Thế lực của quý tộc mới (nòng cốt là giai cấp địa chủ mới hưng khởi) ngày càng chiếm ưu thế); Tầng lớp tiểu nông bị phá sản hàng loạt, lâm vào cảnh đói khổ triền miên... Những biến đổi to lớn ấy thế tất phải phản ánh vào những hoạt động văn hóa tư tưởng. Nhiều nhà trí thức lớn đã xuất hiện, đề xuất nhiều phương án nhằm cải tạo và phát triển xã hội, hoặc chí ít cũng nhằm ổn định lại những mặt chủ yếu của cuộc sống trong thời đại đầy biến động này, dưới nhiều quan điểm triết học tư tưởng khác nhau. Nổi bật nhất có thể kể: Khổng tử đại biểu cho học phái Nho gia; Mặc Địch đại biểu cho Mặc gia; Lão tử, Trang tử đại biểu cho Đạo gia và hàng loạt nhà hoạt động chính trị mang tư tưởng pháp gia mà tiêu biểu hơn cả là Hàn Phi tử ở thời Chiến quốc.
Nho gia chủ trương bảo vệ “công thất”, bảo tồn những giá trị, những thiết chế văn hóa cũ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ 11 đến năm 771 TCN), ra sức tuyên truyền cho lễ nhạc, danh phận, tông pháp, hiếu đế nhân nghĩa, cương đạo, nhân chính v.v... mong muốn dùng những điều đó để giáo hóa nhân dân, để củng cố vương triều, để hạn chế bớt sự tham lam, tàn bạo, xa xỉ, lạm quyền, chuyên chế của giai cấp thống trị, nhằm ổn định cục diện xã hội chính trị đương thời. Mặc gia chủ trương thuyết kiêm ái, muốn quân bình tài sản, thực hành tiết kiệm, tôn trọng người hiền tài... Đạo gia chủ trương thuyết “vô vi”, thuận theo tự nhiên, lý tưởng hóa cuộc sống cổ ở nơi thôn dã... Pháp gia chủ trương đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, coi trọng những vấn đề của cuộc sống trước mắt, ít chú ý tới các thánh chúa hiền vương thuở trước. Ngay cả những điều hiếu đễ nhân nghĩa... cũng không thu hút được sự quan tâm của họ.
Thời bây giờ “vương thất nhà Chu” chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Ở các nước chư hầu “công thất” nói chung chỉ còn hư vị; thực quyền nằm cả trong tay các đại phu, các gia thần... Chính vì vậy, các chủ trương tôn Chu, ủng hộ công thất hạn chế quyền lực của đại phu, gia thần, chính danh phận, thực hành lễ giáo, đức trị v.v... do Khổng tử đề xuất hoàn toàn không phù hợp với yêu cầu và khẩu vị của những thế lực đương quyền. Ông đã từng đến nhiều nước chư hầu để tìm cách “thi hành đạo lớn” nhưng chẳng được nước nào tin dùng. Thất bại trên trường chính trị, ông lui về dồn hết tâm trí, sức lực việc chỉnh lý di sản văn hóa cổ và dạy học cho tới những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. Chính trong lĩnh vực này Khổng tử đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có giá trị lịch sử nổi bật, tạo ra được những hướng cực kỳ sâu sắc đối với đời sau.
Các quan điểm về giáo dục cũng như thực tiễn hoạt động giáo dục của Khổng tử gắn bó chặt chẽ với tư tưởng triết học và hệ thống quan điểm chính trị xã hội của ông. Nói cách khác, sau khi bị bế tắc trên đường hoạt động chính trị, Khổng tử đã gửi gắm hoài bão vào việc đào tạo một tầng lớp nhân tài theo khuôn mẫu, lý tưởng của mình. Khả dĩ thay mình thực hành “đạo lớn” trong thiên hạ. Nghe nói, ông có tới 3000 học trò, trong số đó có 72 người thành đạt nổi (thất thập nhị hiền).
Theo Luận ngữ (sách ghi lời nói việc làm của Khổng tử và của một số môn đồ) thì nội dung giảng dạy của Khổng tử bao gồm 4 phân khoa: đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học. Tuy có sự phân chia như vậy nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là bồi dưỡng những người có đức nhân, người quân tử có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Nhìn tổng quát, nền giáo dục theo tư tưởng Nho gia ở giai đoạn sơ khởi, do Khổng tử đích thân tổ chức và tiến hành, có một số điểm cần đặc biệt lưu ý như sau:
1.Thích ứng với xu thế “văn hóa học thuật chuyển xuống dưới” ở thời Xuân Thu, hoạt động giáo dục của Khổng tử trên chừng mực nhất định có mang tính chất phổ cập, bình dân, chống độc quyền văn hóa của giai cấp quý tộc. Ông từng nói: “Trong việc dạy dỗ, ta không phân biệt loại người này, loại người kia” (Hữu giáo vô loại) – thiên Vệ Linh Công – Sách Luận ngữ; “Từ người chỉ có một bó nem mang đến (để làm lễ ra mắt xin học), trở lên, ta chưa từng (vì lễ vật đơn sơ) mà từ chối không dạy “Tự hành thúc tu dưỡng thượng, ngô vị thường vô hối yêu”- thiên Thuật nhi - sđd)… Chủ trương này được thực hiện khá rộng rãi và nhất quán ở các đời sau, kết hợp với chế độ thi cử, thực tế đã mở đường tiến thân cho nhiều người có tài năng xuất thân từ bình dân (đó chính là hiện tượng “bố ý khanh tướng” - các khanh tướng xuất thân từ tầng lớp bình dân, áo vải).
2. Đề cao việc học tập - Khổng tử quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có sẵn mà phải được tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Ngay các đức tính như nhân, trí, tín, trực, dũng, cương cũng cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng dụng hoàn hảo. Ông chủ trương muốn ra hành đạo giúp đời cần phải học thật giỏi (“Học ưu tắc sĩ”). Sách Luận ngữ còn ghi lại một đoạn đối đáp giữa Khổng tử và học trò là Tử Cao như sau: “Tử Lộ muốn đưa Tử Cao (một người chưa được học hành đến nơi đến chốn) ra làm chức huyện trưởng huyện Phí. Khổng tử nghe tin đó bèn nói: “Như vậy là làm hại con nhà người ta!” Tử Lộ nói: “Nơi đó có dân, có đất đai, có thóc lúa (cứ đứng ra mà cai trị rồi sẽ quen việc) hà tất phải học tập trên sách vở rồi mới được coi là có học!” Khổng tử bèn mắng luôn: “Vì vậy ta mới ghét cái trò nguy biện khéo nói của nhà ngươi” (xem Thiên Tiên Tiến - Sđd). Truyền thống “hiếu học” của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng Nho giáo có lẽ cũng bắt nguồn từ đây.
3. Xác định rõ mục đích của việc học tập, đó là: hành đạo, giúp vua, giúp nước. Ông từng nói: “Học thuộc lòng ba trăm bài thơ trong Kinh Thi, giao cho việc chính sự, không làm nổi; sai đi sứ ở bốn phương, không biết đối đáp ra sao. Như vậy thì tuy học nhiều thật đấy nhưng nào có ích lợi gì đâu“ (xem Thiên Tử Lộ - Sđd)... Sau khi đã khẳng định giá trị của tập Kinh Thi: “Làm người mà không học thơ Chu Man, Thiệu Man thì chẳng khác gì đứng quay mặt vào tường (chẳng nhìn thấy gì, mà cũng chẳng nhúc nhích tiến tới được một bước)” và “Học Kinh Thi có thể phát huy khả năng liên tưởng, có thể nâng cao năng lực quan sát, có thể rèn luyện tính hợp quần, có thể học được cách châm biếm phúng thích”, Khổng tử đã nhấn mạnh “gần thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ cha, xa thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ vua…” (Xem Thiên Dương Hóa - Sđd). Chủ trương này sẽ được tiếp tục triển khai thành các mệnh đề “trí quân trạch dân”, “Kinh bang tế thế” trong tư tưởng các nhà Nho lớp sau.
4. Kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức. Ở mức độ nhất định, có thể nói Khổng tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số một. Ông từng căn dặn các môn đồ nhỏ tuổi: “Này các trò, ở trong nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người nhưng nên gắn đủ những người có đức nhân. Thực hiện được đầy đủ những việc đó rồi, nếu còn dư sức lực thì sẽ dùng để trau dồi tri thức văn hóa” (xem Thiên Dương Hóa - Sđd).
5. Theo quan niệm của Khổng tử, đỉnh cao mà việc rèn luyện nhân cách cần đạt tới là con người “toàn đức” (bao gồm cả ba phẩm chất nhân, trí, dũng, con người coi việc thực hiện “đức nhân” là lý tưởng tối cao, có thể hy sinh thân mình để hoàn thành điều nhân (sát thân thành nhân). Rất coi trọng vai trò của ý chí lý tưởng, ông từng nói: “Có thể bắt sống tướng soái của ba quân nhưng khó lòng cưỡng ép một người bình thường rời bỏ ý chí” (xem Thiên Tử Hãn - Sđd). Chính những chủ trương quan niệm trên đây đã góp phần tạo nên cái sau này được gọi là “khí tiết sĩ phu”, góp phần tạo nên những nhân cách cứng cỏi: “Phú quý không thể làm sa đọa đam mê, nghèo khổ không thể lay chuyển được ý chí, uy vũ không thể khuất phục nổi” (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).
Trên đây là những ưu điểm chủ yếu của nền gáo dục theo tinh thần Khổng giáo, ở giai đoạn mở đầu, được chắt lọc theo hướng “gạn đục khơi trọng”. Tất nhiên, với nền giáo dục ấy, còn xa mới có thể vươn tới hình mẫu một con người phát triển toàn diện. Khổng tử coi trọng việc học nhưng lại không quan tâm đến nền sản xuất xã hội hoặc ứng dụng cái học vào lãnh vực sản xuất vật chất (bằng lao động chân tay hoặc lao động trí óc). Một học trò của Khổng tử là Phàn Trí xin học về kỹ thuật cày cấy. Ông nói: “Kiến thức của ta về mặt này không bằng một lão nông”. Lại xin học nghề làm vườn. ông nói: “Ta không bằng một lão làm vườn”. Tiếp đó, ông chê Phàn Trì là tiểu nhân. Ông quan niệm rằng, cứ học giỏi Thi Thư Lễ Nhạc... “rèn luyện đạo đức cho tốt, cai trị dân cho giỏi thì lo gì không có thóc lúa mà ăn, cần gì phải học cấy cày trồng trọt” (xem Thiên Tử Lộ - sđd). Có lẽ đây là căn nguyên đã khiến cho trong hàng ngũ các nho sĩ đầu óc thực nghiệp kém phát triể. Khổng Tử chủ trương “Thuật nhi bất tác” (chỉ trình bày giới thiệu lại nền văn hóa cũ (của Tây Chu) chứ không sáng tạo thêm cái gì mới), quá đề cao thuyết “ôn cố tri tân” (ôn cũ biết mới) một cách phiến diện một chiều nên cũng đã góp phần tạo nên sự trì trệ, bảo thủ trong lĩnh vực hoạt động tinh thần. Và, cố nhiên, ngay cả với những đỉnh cao của giá trị nhân cách, với những biểu hiện tập trung nhất, tỉnh táo hợp lý nhất của “khí tiết kẻ sĩ”, cũng còn phải hội tụ được nhiều giá trị khác nữa (do hoàn cảnh, điều kiện chủ quan và khách quan cung ứng) mới có thể nói đến những phẩm chất nhân cách kiểu mới mà chúng ta thường quan niệm như: khai phóng, tự do, làm chủ bản thân, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân mình...
Xét tới cùng, đó cũng là một tất yếu lịch sử. Ở đây, khi đánh giá công lao của Khổng tử trong sự nghiệp giáo dục ở thế giới cổ đại, chúng ta cần phải nhớ tới lời căn dặn của V.I.Lênin: “Khi xét công lao của các vĩ nhân, người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống hiến được gì cho nhu cầu của thời đại chúng ta, mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được những gì so với các bậc tiền bối của họ”. Nhìn vào cuộc sống văn hóa tinh thần của Trung Hoa cổ đại trước và sau thời kỳ hoạt động của Khổng tử, chúng ta thấy rõ sự đóng góp của ông quả thực là lớn lao, đặc biệt là về mặt đề cao tinh thần nhân bản.
Nho giáo vào Việt Nam khá sớm, cùng với sự du nhập ngôn ngữ văn tự Hán bám sát theo sau các đoàn quân viễn chinh. Chính vì vậy, trong khoảng 10 thế kỷ đầu Công nguyên, không thể nói rằng đã có một nền Nho học ở Việt Nam. Sự kiện học thuật này sẽ xuất hiện ở những thế kỷ tiếp theo, đặc biệt là sau khi nền độc lập tự chủ của quốc gia phong kiến Việt Nam đã được củng cố và phát triển.
Có thể hình dung về đại thể quá trình tiếp nhận ngôn ngữ văn tự Hán kèm theo đó là nền Hán học (Nho học) ở Việt Nam qua hai giai đoạn lớn sau đây:
Giai đoạn l: (khoảng trước sau thế kỷ I trước CN cho tới thế kỷ 10 sau CN). Cùng với các đoàn quân xâm lược và lực lượng đô hộ của phong kiến phương Bắc, ngôn ngữ văn tự Hán (kèm theo đó là văn hóa Hán, Nho học...) cũng đã ồ ạt tràn vào Việt Nam. Các lực lượng chiếm đóng cũng đã có nhiều cố gắng trong việc phổ biến thứ ngôn ngữ văn tự và nền văn hóa học thuật này nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân ta. Nhưng, sau gần một ngàn năm nỗ lực, kết quả thu được thực quá ít ỏi. Chỉ có vài người được coi là tinh thông Hán học như Lý Cầm, Lý Tiến, Khương Công Phụ..., lại là những người sang “chính quốc” du học, và phần lớn đã ở lại làm quan bên “chính quốc”. Tên tuổi của họ - nói chi đến sự nghiệp văn chương sớm bị chìm trong quên lãng. Duy chỉ có Tinh Thiều, cũng tinh thông Hán học, nhưng đã từ bỏ con đường hợp tác với lực lượng đô hộ, tham gia cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, được cử làm tướng văn, đứng đầu ban văn của triều đình nước Vạn Xuân, là còn thấy lưu danh trong sử sách.
Giai đoạn 2: bắt đầu khoảng thế kỷ 10. Trong hoàn cảnh đã giành được nền độc lập tự chủ, tiến lên xây dựng quốc gia phong kiến hùng mạnh, nền Hán học ở nước ta đã có những bước phát triển mau lẹ. Nhìn chung, việc tìm hiểu nghiên cứu và vận dụng những tri thức Hán học (trong đó những kiến giải về Nho giáo đóng vai trò chủ chốt) ở nước ta trong giai đoạn này đã có những nét nổi bật, bộc lộ rõ xu hướng học tập tinh hoa văn hóa bên ngoài để xây dựng nền học thuật nước nhà.
Có thể nói, đây cũng là một trường tranh đấu mà tổ tiên ta đã dũng cảm kiên trì với tài trí thông minh tuyệt vời để một mặt thì vươn lên chiếm lĩnh lấy đỉnh cao của văn minh đương thời, để nước ta “không kém gì Hoa Hạ” (“bất tôn ư Hoa Hạ” - Hoa Hạ được dùng để trỏ Trung Quốc) và mặt khác thì vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc dân tộc, do đó đã có được những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa chung của khu vực, của nhân loại. Đành rằng, trong một thời gian kể cũng khá dài, giai cấp phong kiến và tầng lớp nho sĩ Việt Nam đã quá sính dùng chữ Hán, đã quá mê tín “Tử Viết, Thi Vân” (Khổng tử đã nói, Kinh Thi có câu… ) Nhưng xét cho kỹ, tất cả những yếu tố ngôn ngữ - văn hóa từ ngoài đưa tới đó, muốn có một sinh mệnh thực sự trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc thì đều phải trải qua nhiều lần thoát xác cải biên, Việt hóa sâu sắc. Âm Hán Việt - cách đọc chữ Hán của người Việt Nam; từ Hán Việt với những đổi thay nhất định về kết cấu ngữ nghĩa, về phạm vi sử dụng, về sắc thái biểu cảm; cả một nền văn chương chữ Hán đồ sộ của người việt Nam; chữ Hiếu, quan niệm về Nhân Nghĩa của Nguyễn Trãi, cái nhìn khoáng đạt về cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm; chữ Tài, chữ Tình trong tâm tưởng của Nguyễn Du, lẽ cương thường trong suy tư và hành động của các chiến sĩ Cần Vương cuối thế kỷ trước... Tất cả đều góp phần tô đậm màu sắc Việt Nam trong việc tiếp nhận và ứng dụng hệ thống ngôn ngữ - tư tưởng - văn hóa ngoại lai này. Trong quá khứ lịch sử, người Việt Nam đã dành ra khá nhiều năm tháng để nghiên cứu học tập và ứng dụng nền văn chương học thuật Trung Quốc mà nòng cốt là tư tưởng Khổng Mạnh. Qua các lớp học của thầy đồ nơi thôn xóm ngay từ thuở tóc còn để trái đào, trẻ con Việt Nam ngày xưa đã làm quen với những câu chữ “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Nhân chi sơ tính bản thiện”, “Thiên tử trọng hiền tài...” (học lễ trước, học các tri thức văn hóa khác sau; con người ta ngay từ đầu tính vốn thiện, Thiên tử coi trọng người hiền tài, giỏi giang...). Lớn lên, qua Tứ thư (Đại Học, Trung dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu), tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam lại đi sâu nghiên cứu những lý thuyết về Vương đạo, nhân chính, về trung hiếu tiết nghĩa, những mong muốn đem các số học ra ứng dụng để “cứu khốn phò nguy” để “kinh bang tế thế”...
Nền giáo dục học thuật kéo dài qua hàng trăm thế hệ ấy đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa, trong tâm thế ứng xử của người Việt Nam. Cách đây không lâu, người phụ nữ nông thôn bình thường nơi thôn xóm, chẳng cần phải qua cửa Khổng sân Trình, cũng dễ dàng phân biệt được về mặt chữ nghĩa sự khác nhau giữa hai chữ tiểu trong “tích tiểu thành đại” và “tiểu nhân”, một bên nói về lượng, một bên nói về chất. Kẻ tiểu nhân là kẻ thiếu nhân cách, kém đạo đức, mặc dù hắn có thể to con lớn xác. Và như vậy, hầu như là tự nhiên, họ đã tiếp cận được và lý giải được ý nghĩa nội hàm của những khái niệm khá cơ bản của đạo lý cổ truyền phương Đông Nho giáo. Điều này phần nào đã có thể nói lên được sự xâm nhập khá sâu của nền giáo dục theo tinh thần Khổng giáo vào xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, không cần kể đến những thiết chế văn hóa rộng lớn có tính chất bao trùm ngay trong nhiều tập quán sinh hoạt đời thường, hoặc như cách đặt tên người, tên đất (Lý Nhân, Vụ Bản, Dị Nâu, Bần Yên Nhân, Hành Thiện v.v..), chẳng hạn tất cả đều cho thấy dấu ấn của sự xâm nhập đó. Đây là một thực tế lịch sử buộc chúng ta phải đầu tư nhiều công sức, trí tuệ để tiếp cận, minh giải và xử lý nó một cách khoa học, nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trên đất nước ta trong giai đoạn hiện tại. Công việc này đòi hỏi những công trình nghiên cứu sâu rộng, trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa bộ môn. Dựa trên quan niệm quá khứ hiện đại - tương lai là một dòng liên tục, nhiều vấn đề của quá khứ có thể được coi như những “gợi ý lịch sử”, có ý nghĩa thực tiễn nhất định đối với cuộc sống hôm nay, qua những điều đã trình bày một cách giản lược ở trên về nền giáo dục theo tinh thần Nho giáo, chúng tôi muốn đề xuất một số điều nhận xét chung có thể coi như là cơ sở xuất phát, để tiếp tục đi sâu khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu Khổng giáo nói chung và nền giáo dục theo tinh thần Khổng giáo nói riêng trong quá khứ lịch sử ở Việt Nam.
Trước hết, cần thấy rõ tinh thần Khổng giáo đã thấm vào mọi ngõ ngách của đời sống người dân Việt Nam trong quá khứ, đã gây những ảnh hưởng rất sâu rộng. Hiện nay, những ảnh hưởng này vẫn tồn tại ở những mức độ khác nhau trong mọi mặt của cuộc sống, nhiều khi quá sâu sắc, tế vị, phức tạp, dưới muôn hình vạn trạng, không nên quan niệm một cách đơn giản rằng ảnh hưởng của Khổng giáo ở Việt Nam là không đáng kể chỉ tác động đến tầng lớp trên, tầng lớp có học v.v… Những di sản của Khổng giáo (xấu cũng như tốt). Vấn đề đặt ra là cần phải tìm cách nhận diện chúng và xử lý chúng một cách khoa học. Theo chúng tôi suy nghĩ, cần phải nhìn nhận những di sản này một cách “thực sự cầu thị”; cần phải nhìn nhận những di sản này một cách “thực sự cầu thị”; cần phải nghiên cứu để nhận thức chúng một cách lịch sử và biện chứng. Những yếu tố văn hóa Khổng giáo sở dĩ có thể sống lâu dài ở Việt Nam trước hết có lẽ là do bản thân chúng có mang theo những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại. Những giá trị phổ quát này đã tích hợp các giá trị văn hóa bản địa tương ứng, trên chừng mực nào đó đã được cấu trúc lại cho phù hợp nội tâm thế Việt Nam. Hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế -xã hội, ngay cả môi cảnh thiên nhiên, vị trí địa lý nữa v.v… cũng đã góp phần tạo thêm sức sống cho những yếu tố văn hóa ngoại nhập này. Có lẽ đó là những điều cần nghiên cứu tìm hiểu kỹ kỹ lưỡng để tránh thái độ nôn nóng, đơn giản… Khi muốn xóa bỏ ảnh hưởng này nọ được quan niệm là gắn bó với tinh thần Khổng giáo.
Cuối cùng, với cái nhìn rộng mở, trong hoàn cảnh ngày nay nhiều vấn đề của Phương Đông, nhiều giá trị truyền thông của Phương Đông đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của toàn thế giới, phải chăng đã có thể đề xuất việc nghiên cứu một cách thấu đáo để tiến tới xác lập một phương hướng đúng đắn và nhưng phương pháp khoa học tương ứng nhằm xử lý một cách tối ưu những di sản, những truyền thống văn hóa Khổng giáo trong cuộc sóng hiện tại. Thí dụ như Trung Hiếu là vấn đề tồn tại từ ngàn xưa. Trung Hiếu không phải là của riêng của dân tộc Trung Hoa, của riêng của Nho giáo. Có lẽ tổ tiên ta đã mượn hai danh xưng này để phát triển những tình cảm đã gắn bó với cộng đồng người Việt từ thuở bước vào cuộc sống có tổ chức. Qua các thời gian lịch sử, nội dung của Trung Hiếu có những phần được bổ sung, hiệu chỉnh cho ngày càng hoàn thiện hơn, mang tính chất con người hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất Trung với nước, Hiếu với dân..., có thể coi đây là mẫu mực của việc cải biên, nâng cao, thậm chí đổi mới nội dung của những khái niệm gắn bó với những bậc thang giá trị cũ, đem lại cho chúng sức sống mới trong thời đại mới.
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
DANH NHÂN GIÁO DỤC NGUYỄN TRÃI
Nhân dịp 568 năm ngày giỗ Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (16 tháng Tám AL), Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Ban quản trị Website xin đăng bài “Phác họa chân dung Danh nhân giáo dục Nguyễn Trãi” của tác giả Nguyễn Bá Cường như để kính cẩn dâng lên Người một nén tâm hương.
Sự nghiệp tư tưởng của Nguyễn Trãi (1380 - 1442) có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Ông là người đã đặt cơ sở cho tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc và xây dựng triều đại mới - Lê sơ - triều đại được coi là cực thịnh của chế độ phong kiến ở Việt Nam. Ông có nhiều cống hiến hết sức to lớn trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí, ngoại giao, văn học, ngôn ngữ, nghệ thuật,... Trong hệ thống tư tưởng của ông, vấn đề giải phóng con người, giáo dục con người là vấn đề xuyên suốt và được quan tâm trước hết.
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi - danh nhân văn hóa thế giới, “khí phách và tinh hoa của dân tộc Việt Nam” đã được làm sáng tỏ về cơ bản trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nhấn mạnh đến sự nghiệp giáo dục của ông. Những dữ kiện được nêu lên sau đây cho thấy cuộc đời Nguyễn Trãi có sự gắn bó liên tục với giáo dục.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học và khoa cử, “đã có sẵn thanh danh vị vọng”: cha là Nguyễn Ứng Long (còn có tên là Phi Khanh) vốn là nhà Nho nghèo dạy học, thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm 1374, mẹ là Trần Thị Thái - con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Sáu tuổi, Nguyễn Trãi đã ham đọc sách (“Lục tuế nhi đồng phả ái thư”), tiếp nối truyền thống gia đình (“Một cửa thi thư dõi nghiệp nhà”[1]).
Tuổi trẻ Nguyễn Trãi đã nức tiếng thơm về học vấn trong giới nhà Nho (Thanh niên phương dự ái nho lâm). Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: Ông “học rộng văn hay”, “tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh, sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả”. Ở tuổi 21, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh trong khoa thi đầu tiên do nhà Hồ tổ chức (1400), làm quan với chức Chính chưởng Ngự sử đài (dưới thời Hồ Hán Thương, 1401 - 1407).
Cuối năm 1406, nhà Minh xâm lược Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam khi đó). Cha con Nguyễn Trãi đã dứt khoát đứng về phía nhà Hồ để kháng chiến chống quân Minh. Tháng 4 năm 1407, nhà Hồ thất bại, nhiều triều thần bị giặc bắt đưa về Trung Quốc, trong đó có cha ông - Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Trãi bị giặc Minh bắt và giam lỏng ở phía Nam thành Đông Quan (nay là Hà Nội). Ông sống và dạy học trong khoảng mười năm tại ngôi nhà của người cha khi còn làm quan dưới triều Hồ.
Trong thời gian loạn lạc này, họ hàng thân thích ly tán, Nguyễn Trãi nhận thấy chuyện công danh chỉ là giấc mộng. Ông nghĩ mình giống như Vương Thức (người đời Hán làm việc dạy học) và ông cũng tự học theo gương Quản Ninh (người đời Ngụy thời Tam Quốc, lánh nạn dạy dân về thi thư, lễ nghĩa) chứ nhất định không ra làm quan cho giặc. Bởi thế, nỗi niềm mong muốn của ông chính là nơi thư phòng. Ông quyết tâm vượt lên cảnh nghèo khó (và mất tự do) để học tập, giảng dạy: “Mười năm đọc sách, nghèo đến tận xương, Mâm cơm đến rau mục túc cũng không có, chỗ ngồi không có đệm”. Sau này, khi gặp lại bạn cũ, Nguyễn Trãi nhớ lại thời kỳ mười năm từng dạy học (Ký tằng giảng học thập dư niên). Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu, ông đã từng có nhiều thời điểm dạy học. Chẳng hạn: GS.TSKH Dương Thiệu Tống cho rằng, Nguyễn Trãi có ít nhất bốn thời kỳ mở trường dạy học: Thời kỳ thứ nhất (trước 1400) khi chưa thi đỗ, tại Nhị Khê; thời kỳ thứ hai trong khoảng 10 năm lưu lạc (1407 - 1416); thời kỳ thứ ba sau khi gặp Lê Lợi và trước khi khởi nghĩa (1416 - 1418); và thời kỳ thứ tư, trước khi gặp thảm họa vì vụ án Lệ Chi Viên (1442)[2]. Theo GS Bùi Văn Nguyên: “Chắc chắn Nguyễn Trãi có vài lần trực tiếp dạy học, còn như việc tham gia chấm thi, đọc quyển,v.v,.. có thể nhiều lần, kể từ khoa Minh Kinh năm Bính Ngọ (1426) đến khoa thi Hội chính quy năm Nhâm Tuất (1442)[3].
Không chỉ hành đạo thông qua giáo dục, Nguyễn Trãi hăng hái thực hiện bản lĩnh của một nhà Nho hành động: “chí những muốn việc cổ nhân đã muốn, để tâm dân chúng, mình trước lo điều thiên hạ phải lo”. Khoảng 1416 - 1418, ông tìm cách vào Thanh Hóa dâng “Bình Ngô sách” lên thủ lĩnh cuộc kháng chiến là Lê Lợi và chính thức tham gia phong trào khởi nghĩa Lam Sơn với mục đích “lo vận nước”, “cứu lê dân”, “rửa nhục ngàn thu”, để xây dựng “xã tắc vững bền”, “non sông đổi mới” và để “mở nền thái bình muôn thuở”.
Cuộc kháng chiến chống quân Minh toàn thắng, với vai trò “làm công thần mở nước thứ nhất”, Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tổ cho theo họ Lê (vì thế còn gọi là Lê Trãi) và phong tước Quan phục hầu, được cử giữ các chức quan: Hàn lâm viện Thừa chỉ, Nhập nội Hành khiển, Lại bộ Thượng thư,… Ông đã giúp vua xây dựng đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao và tổ chức chế độ giáo dục, thi cử. Nhà vua giao cho ông soạn Chiếu cầu hiền tài, Chiếu ban “Hậu tự huấn” để răn bảo Thái tử,... Tuy vậy, dưới thời Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi bị nghi ngờ về lòng trung thành nên khiến ông bị bắt giam, sau không đủ chứng cứ rồi lại được tha (năm 1429). Kể từ đó, ông không được trọng dụng mà chỉ được giao cho san định lễ nhạc, sử sách (như hiệu đính nhã nhạc, định quy chế mũ áo...). Thông qua những việc này mà Nguyễn Trãi thực hiện một số chủ trương cải cách văn hóa, giáo dục.
Sau khi vua Lê Thái Tổ mất, Nguyễn Trãi bị bọn gian thần gièm pha nên ông đã xin về nghỉ ở Côn Sơn. Năm 1434, ông được Lê Thái Tông triệu ra làm quan và tin dùng, cử vào điện Kinh Diên dạy vua học tập, soạn sách Dư địa chí để giáo dục về địa lí, phong tục, soạn lễ nhạc cho triều đình và dạy hát múa trong cung. Kết quả giáo dục của Nguyễn Trãi được Lê Quý Đôn đánh giá là đã “giúp nên đức cho vua”.
Khoảng cuối năm 1437, do mâu thuẫn giữa các võ quan và văn quan, giữa các phe phái võ quan, sự lộng hành của các hoạn quan, Nguyễn Trãi đã đấu tranh chống lại bọn chúng nhưng thân cô thế cô nên ông phải xin lui về ẩn dật tại Côn Sơn. Ông vẫn miệt mài hành đạo thông qua giáo dục: “Dạy láng giềng mấy sĩ nho”. Ông tự hào noi theo con đường của nhà Nho kẻ sĩ mà gia đình truyền lại với sự thanh bạch, đồng thời vui mừng vì còn giữ được nghiệp cũ để truyền lại nghiệp Nho cho con cháu trong nhà. Ông quan niệm đó mới là vốn quý chứ đâu cần gì phải vàng bạc đầy rương?.
Năm 1439, vua Lê Thái Tông lại mời Nguyễn Trãi về tham dự triều chính, khôi phục quyền chức và được trọng dụng. Trong đó, đáng chú ý là ông được giao “kiêm Tam quán” - công việc về văn hóa, giáo dục. Ông coi việc đó là “điều Nho giả cực vinh” và thông qua chức ấy, ông có điều kiện để tổ chức giáo dục lòng tự hào về nền văn hiến của dân tộc và thực hiện trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ mai sau. Chính vì thế, mùa xuân năm Nhâm Tuất (1442), triều đình nhà Lê đã mở khoa thi Tiến sĩ đầu tiên, Nguyễn Trãi được cử làm "độc quyển" (người duyệt bài thi lần cuối cùng để trình lên nhà vua quyết định thứ hạng cao thấp), vua Lê Thái Tông thân hành ra đề sách vấn, lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và Tiến sĩ. Kể từ khoa thi này, chế độ thi cử, tuyển chọn nhân tài thời Lê nói riêng và ở nước ta trong lịch sử nói chung được định hình về cơ bản nhờ công lao xây dựng nền móng của Nguyễn Trãi.
Do uy tín của Nguyễn Trãi từ trước (“nói tất nghe mà kế tất theo”) và được trọng dụng trở lại (“công đã thành mà danh đã toại”) khiến ông phải đối mặt với một sự thật: “mua ghen ghét, chuốc gièm pha, chợt nhặng xanh nhơ vết”. Ông rút ra kết luận: Mới biết rằng, người thẳng ngay thì khó hợp (Tín tri lạc lạc giả nan hợp), “để trong trắng thì bẩn dễ dây” (Chung linh hạo hạo giả dị ô). Dù ông “đầu bạc lòng son”, mong cho “thanh thiên bạch nhật, lòng trung được chút tỏ ra” nhưng rồi vẫn đành “phải ngậm cười dưới đất”. Thảm án oan Lệ Chi Viên do bàn tay tạo dựng của những kẻ ghen ghét đố kỵ với nhân cách và tài năng của ông đã khiến cho sự nghiệp chính trị và giáo dục của bậc hiền tài, vị khai quốc công thần nhà Lê dừng lại với kết cục tru di ba họ vào mùa thu năm 1442.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi, sau đó, các tác phẩm của ông được sưu tầm và lưu truyền. Nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh (1980), Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức các hoạt động kỷ niệm ở nhiều nước trên thế giới, trong đó ở Việt Nam tổ chức trọng thể cấp Nhà nước.
Nguyễn Trãi đã để lại tấm gương về sự sáng tạo không mệt mỏi trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, đặc biệt là phương diện văn hóa - giáo dục. Hầu hết các tác phẩm mà ông sáng tác đều có giá trị giáo dục to lớn: “Bình Ngô sách” - chiến lược giải phóng dân tộc nhằm giáo dục và định hướng về đường lối đánh giặc, cứu nước; “Quân trung từ mệnh tập” có tác dụng giáo dục tư tưởng độc lập dân tộc, đưa con người trở về chính nghĩa, tạo dựng niềm tin và mối quan hệ bang giao hữu hảo; “Bình Ngô đại cáo” - bản tuyên ngôn độc lập có tác dụng giáo dục ý thức tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước tự cường, khẳng định chủ quyền lãnh thổ, văn hiến, lịch sử và biểu dương sức mạnh đoàn kết dân tộc, nêu cao vai trò của nhân tố con người, giáo dục tinh thần hòa bình, nhân đạo chủ nghĩa,…; “Dư địa chí” - cuốn sách địa lý toàn quốc đầu tiên có tác dụng giáo dục sự hiểu biết về vị trí địa lý, lãnh thổ, sản vật, tài nguyên vùng miền,… để từ đó tăng cường tình yêu nước, yêu con người Đại Việt, bảo vệ Tổ quốc và bản sắc văn hóa dân tộc; “Lam Sơn thực lục” - cuốn sách lịch sử nhằm giáo dục truyền thống lịch sử và phương pháp tư duy đấu tranh giải phóng dân tộc, dựng xây đất nước, đặt ra nhiều kỳ vọng (trách nhiệm) ở con cháu đời sau,... Nguyễn Trãi làm thơ Quốc âm nhằm giáo dục và bảo vệ nét đẹp đặc sắc về ngôn ngữ - một trong những thành tố cơ bản làm nên độc lập về văn hóa dân tộc. Việc ông tham gia soạn luật, định lễ nhạc, phong tục, trang phục,… đều nhằm giáo dục ý thức chấp hành kỷ cương, trật tự xã hội, nâng cao ý thức thẩm mỹ, nghệ thuật cho triều đình và dân chúng.
Sự nghiệp giáo dục của Nguyễn Trãi được nhà sử học, nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo nổi tiếng đương thời là Phan Phu Tiên làm thơ mừng “bậc danh nho giúp đời trị bình” và khái quát: Trẻ thì ham học, lớn lên thi hành đạo (đã học), sống đã tự mình biết giác ngộ trước rồi lo giác ngộ cho muôn người dân. Nguyễn Mộng Tuân (đỗ Thái học sinh cùng khoa thi với Nguyễn Trãi, làm quan dưới triều các vua đầu thời Lê sơ), trong thơ mừng Nguyễn Trãi có nhà mới nói rằng: Sách vở thì giàu nhưng của cải thì nghèo xơ cả bốn vách (Tứ bích gia bần phú lục kinh), đồng thời ca ngợi ông: Dựng nước và làm vẻ vang Tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông (“Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền”). Chính cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cao thượng của Nguyễn Trãi đã có giá trị giáo dục sâu rộng, lâu dài trong lịch sử dân tộc ta. Ông chẳng những “lưu dấu ấn đẹp đẽ trong lịch sử thời Lê cường thịnh về kinh tế, cường thịnh về giáo dục,v.v..” mà còn có tác dụng giáo dục lớp lớp thế hệ người Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Trãi là một nhà Nho Việt Nam tiêu biểu. Trong giáo dục, ông thấm nhuần Nho học nhưng không giáo điều, “hủ nho”. Nguyễn Trãi luôn luôn có ý thức và không ngừng vận dụng Nho học nói chung và lý luận giáo dục Nho học nói riêng vào đời sống thực tiễn xã hội nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Bởi thế, sau này, Chu Xán, sứ nhà Thanh sang Đại Việt vào năm Chính Hòa thứ 4 (1683) có nhiều thơ hay về Việt Nam dâng lên triều đình Trung Quốc, trong đó có lời tôn vinh Nguyễn Trãi là người nổi tiếng về kinh tế. Sử gia Phan Huy Chú cũng khẳng định Nguyễn Trãi có sự nghiệp “kinh bang tế thế”. Nguyễn Trãi đề cao vai trò quan trọng của giáo dục đối với việc đào tạo nhân tài, giữ gìn và phát huy đạo đức xã hội, thay đổi bản tính và hoàn thiện phẩm chất nhân cách con người, là con đường tạo ra những sức mạnh vật chất và những lực lượng tiến bộ thúc đẩy xã hội phát triển. Ông chú trọng giáo dục những phẩm chất cơ bản của đạo làm người, tập trung vào nhân nghĩa, trung cần,… và chính ông là một tấm gương sáng về đạo làm người với cốt cách dân tộc và tinh hoa nhân loại. Sự nghiệp của ông mãi mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử văn hóa Thăng long - Hà Nội.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Từ đây trích dẫn thơ văn Nguyễn Trãi theo Nguyễn Trãi toàn tập (tân biên), 3 tập (in lần thứ hai), Mai Quốc Liên chủ biên, Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn học, 2001.
[2] Dương Thiệu Tống. Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại. Nxb Trẻ, 2003, tr.211-219.
[3] Bùi Văn Nguyên. Văn chương Nguyễn Trãi. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984, tr.298
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN) được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951 theo Nghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục. Ngày 10 tháng 12 năm 1993 theo Nghị định 97/CP của Chính phủ, trường là một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Quyết định 201/QĐTTg ngày 12 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường được tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội và mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Trường ĐHSPHN là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học và là nơi tạo nên nhiều nhân tài, nhà khoa học danh tiếng cho đất nước.
Các giai đoạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của trường bao gồm giai đoạn 1951-1966 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), giai đoạn 1966-1993 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1), giai đoạn 1993-1999 (trường mang tên là Đại học Sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) và giai đoạn từ tháng 10 năm 1999 đến nay (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Hiện nay, trường ĐHSPHN là một trong hai trường ĐHSP trọng điểm của nước ta.
Quá trình hơn 50 năm xây dựng và phát triển của nhà trường gắn liền với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục - đào tạo và nền đại học Việt Nam. Vượt lên những khó khăn, các thế hệ cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên, sinh viên, học sinh đã tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường.
Trường ĐHSPHN đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng "máy cái của ngành giáo dục", trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng.
Tính đến năm 2004, trường ĐHSPHN đã đào tạo 76.300 cử nhân (41.092 cử nhân chính qui, 26.910 cử nhân tại chức, 7.624 cử nhân từ xa, 674 cử nhân thuộc các hệ khác), 3.885 thạc sĩ (580 thạc sĩ Toán-Tin, 350 thạc sĩ Vật lí, 358 thạc sĩ Hóa học, 379 thạc sĩ Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp, 960 thạc sĩ Ngữ văn, 232 thạc sĩ Lịch sử, 205 thạc sĩ Địa lí, 703 thạc sĩ Tâm lí - Giáo dục, 28 thạc sĩ Sư phạm kĩ thuật, 4 thạc sĩ Giáo dục tiểu học và 86 thạc sĩ Giáo dục mầm non). Trường là cơ sở đào tạo sau đại học đầu tiên ở Việt Nam (bắt đầu đào tạo sau đại học từ năm 1970). Hàng năm, trường ĐHSPHN có 4.950 sinh viên chính qui, 2.000 sinh viên chuyên tu, 6.000 sinh viên tại chức, 25.000 sinh viên từ xa, 1.400 học viên thạc sĩ và 245 nghiên cứu sinh. Trường có 40 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 39 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2005, trường đã đào tạo 600 tiến sĩ (trong đó có 4 tiến sĩ khoa học) (146 tiến sĩ Ngữ văn, 106 tiến sĩ Tâm lí - Giáo dục, 83 tiến sĩ Địa lí, 80 tiến sĩ Sinh học, 52 tiến sĩ Lịch sử, 47 tiến sĩ Hóa học, 45 tiến sĩ Toán - Tin, 36 tiến sĩ Vật lí và 5 tiến sĩ Sư phạm kĩ thuật). Luận án tiến sĩ đầu tiên được bảo vệ ngày 23 tháng 4 năm 1970, luận án tiến sĩ thứ 100 được bảo vệ ngày 10 tháng 4 năm 1992, luận án tiến sĩ thứ 200 được bảo vệ ngày 12 tháng 10 năm 1995, luận án tiến sĩ thứ 300 được bảo vệ ngày 8 tháng 5 năm 1997, luận án tiến sĩ thứ 400 được bảo vệ ngày 19 tháng 1 năm 2001, luận án tiến sĩ thứ 500 được bảo vệ ngày 12 tháng 9 năm 2002 và lụân án tiến sĩ thứ 600 được bảo vệ ngày 28 tháng 4 năm 2005.
Theo “Thống kê Giáo dục và Đào tạo năm học 2004-2005” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2004-2005 trường ĐHSPHN tuyển mới 992 học viên cao học; có tổng cộng 218 nghiên cứu sinh và 1.677 học viên cao học; số người được cấp bằng tiến sĩ là 31 và số người được cấp bằng thạc sĩ là 589; tổng số sinh viên của trường là 57.946 (6.957 sinh viên hệ chính qui, 1.454 sinh viên liên kết đại học chính qui, 2354 sinh viên hệ chuyên tu, 10.733 sinh viên hệ tại chức, 36.448 sinh viên của các hệ khác) và số tuyển mới là 17.959 (1.951 sinh viên hệ chính qui, 977 sinh viên hệ chuyên tu, 2.187 sinh viên hệ tại chức và 12.844 sinh viên của các hệ khác); số sinh viên tốt nghiệp đại học là 6.250; số giảng viên là 807; tổng số cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên là 1.227 (807 giảng viên trong đó có 609 giảng viên biên chế, 70 giảng viên hợp đồng dài hạn, 362 nữ giảng viên, 24 GS, 126 PGS, 227 TSKH và TS, 177 ThS, 19 Nhà giáo Nhân dân và 74 Nhà giáo Ưu tú; giảng đường có tổng diện tích là 19.760 m2 và 181 phòng; phòng máy tính có tổng diện tích là 2.812 m2 và 36 phòng; thư viện có tổng diện tích là 6.334 m2 và 31 phòng; phòng thí nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m2 và 38 phòng.
Theo Báo cáo tổng kết năm học 2004-2005 của trường ĐHSPHN, trường có 6.983 sinh viên hệ chính qui trong đó có 1.453 sinh viên hệ chính qui theo địa chỉ, 46.768 sinh viên hệ không chính qui trong đó có 31.912 sinh viên hệ từ xa và 16.856 sinh viên hệ tại chức. Số sinh viên hệ chính qui tốt nghiệp đại học là 1.062 (tỉ lệ tốt nghiệp đại học là 92,59%, tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi là 11,68%, tỉ lệ tốt nghiệp loại khá là 59,04%, tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình khá là 29,2% và tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình là 0,09%). Trường tuyển mới 72 nghiên cứu sinh, 950 học viên cao học, 210 học viên dự án và mở một số lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ sau đại học. Có 80 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Nhà nước, 659 học viên cao học bảo vệ luận văn thạc sĩ và 300 học viên được cấp chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kì đổi mới, trường ĐHSPHN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được xã hội tín nhiệm và đánh giáo cao. Từ năm 1996 đến nay, trường đã tuyển được nhiều học sinh giỏi và đã đào tạo các cử nhân khoa học tài năng tại 7 khoa là khoa Toán, khoa Vật lí, khoa Hóa học, khoa Sinh - KTNN, khoa Ngữ văn, khoa Lịch sử và khoa Địa lí. Một số sinh viên của hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng được cử đi học nước ngoài. Nhiều sinh viên của trường đạt giải cao trong các kì thi Olympic về khoa học cơ bản và khoa học giáo dục. Hầu hết các cử nhân khoa học tài năng là nguồn cán bộ trẻ cho nhà trường và các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu và trường trung học phổ thông.
Một yếu tố quan trọng để bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học là cơ sở vật chất kĩ thuật. Cơ sở vật chất kĩ thuật của trường ngày càng được tăng cường. Nhà trường đã có đủ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập và phương tiện kĩ thuật phục vụ cho dạy và học. Nhà trường đã tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp và lành mạnh. Trường ĐHSPHN kiên trì thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "... làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước".
Trường ĐHSPHN là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành. Trường có hơn 2.000 công trình nghiên cứu khoa học. Trong giai đoạn 1996-2003, trường có trên 600 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc các chương trình trọng điểm quốc gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài trọng điểm cấp Bộ,... Nhiều nhà khoa học của trường trở thành các nhà khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế và được nhận các Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước. Trong năm học 2004-2005, trường đã tiến hành nghiệm thu 135 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 44 đề tài cấp Bộ và 65 đề tài cấp Trường. Hiện nay, trường đang triển khai 172 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 77 đề tài cấp Bộ, 113 đề tài cấp Trường trong đó có 25% số đề tài phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo. Các đề tài bao gồm các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng sản xuất phục vụ đời sống và khoa học sư phạm phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo cử nhân chất lượng cao và sau đại học. Trường kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học thông qua hướng nghiên cứu gắn với các đề tài luận án. Kinh phí cấp cho nghiên cứu khoa học ngày một tăng. Từ kinh phí nghiên cứu hàng năm khoảng 400 triệu đồng đến nay là xấp xỉ 8 tỉ đồng. Đó là chưa kể đến kinh phí cho các dự án, chương trình nghiên cứu như Dự án Phòng thí nghiệm Hóa - Công nghệ sinh học (hơn 29 tỉ đồng), Dự án nghiên cứu vùng sinh thái- kinh tế sông Đà (3 tỉ đồng), Dự án Sida (3 tỉ đồng), Dự án tăng cường trang thiết bị cho Viện Nghiên cứu sư phạm (3 tỉ đồng), Dự án lưu trữ gen (200 triệu đồng), Dự án phát triển giống lúa đột biến (300 triệu đồng), Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin (500 triệu đồng),… Kinh phí đầu tư trang thiết bị hàng năm phục vụ cho nghiên cứu và đào tạo khoảng 3 đến 4 tỉ đồng trong đó ưu tiên đầu tư trọng điểm cho một số phòng thí nghiệm quan trọng. Trường còn triển khai nghiên cứu đưa công nghệ thông tin và giáo dục môi trường vào các trường phổ thông (xây dựng hơn 100 phần mềm đổi mới phương pháp dạy và học, tổ chức lớp học và cấp 500 chứng chỉ bồi dưỡng công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên của 44 Sở Giáo dục và Đào tạo, tổ chức lớp học và cấp 350 chứng chỉ Giáo dục môi trường cho học viên của 40 Sở Giáo dục và Đào tạo, mở 20 lớp bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho cán bộ trong toàn trường).
Nhờ có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hùng hậu, Trường ĐHSPHN có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng cao nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư phạm. Hai phần ba số tác giả biên soạn sách giáo khoa phổ thông là cán bộ của trường. Từ năm 1996 đến năm 2003, trường đã biên soạn 223 đầu sách giáo trình và tài liệu tham khảo. Nhà xuất bản ĐHSP của trường tuy mới thành lập nhưng đã xuất bản 147 đầu sách với số lượng hàng vạn bản. Nhà trường rất chú trọng và đẩy mạnh chương trình đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lí và giảng dạy. Trong năm học 2004-2005, trường đã xuất bản 112 giáo trình cho các hệ chính qui và không chính qui. Để phục vụ nhiệm vụ cải cách giáo dục của Bộ, trong 2 năm 2004 -2005 các cán bộ của trường đã biên soạn 17 bộ sách giáo khoa THPT phân ban của các lớp 11 và 12, đóng góp ý kiến cho chương trình và sách giáo khoa THPT thí điểm, biên soạn và thẩm định tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 12 phân ban thí điểm, phối hợp với Bộ tổ chức hội thảo về chương trình và sách giáo khoa phân ban, biên soạn và thẩm định tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 12 phân ban thí điểm và tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên của các tỉnh miền núi.
Trường ĐHSPHN là một trong những trường có thành tích xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước. Hệ trung học phổ thông chuyên đã đào tạo gần 2.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông loại giỏi và xuất sắc. Có 36 học sinh đoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc và 11 Huy chương Đồng) tại các kì thi Olympic quốc tế. Đặc biệt là liên tục từ năm 1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương Vàng Olympic quốc tế và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Trường ĐHSPHN cũng là trường có thành tích cao trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Liên tục từ năm 1998 đến nay, trường đều có sinh viên đạt giải cao. Năm 2003 trường có hơn 600 công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận là một trong những đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Trong 10 năm trở lại đây, trường có 8 giải Nhất, 11 giải Nhì, 6 giải Ba, 20 giải Khuyến khích cấp Bộ của sinh viên nghiên cứu khoa học. Trường là một trong 7 trường đại học có thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học cao nhất trong cả nước.
Nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ trẻ. Chỉ trong những năm 1999 - 2005 trường đã kết nạp 325 đảng viên trong đó có 200 đảng viên là sinh viên và học viên sau đại học. Một số cán bộ của trường đã trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.
Trường ĐHSPHN là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học và là nơi tạo nên nhiều nhân tài, nhà khoa học danh tiếng cho đất nước.
Các giai đoạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của trường bao gồm giai đoạn 1951-1966 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), giai đoạn 1966-1993 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1), giai đoạn 1993-1999 (trường mang tên là Đại học Sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) và giai đoạn từ tháng 10 năm 1999 đến nay (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Hiện nay, trường ĐHSPHN là một trong hai trường ĐHSP trọng điểm của nước ta.
Quá trình hơn 50 năm xây dựng và phát triển của nhà trường gắn liền với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục - đào tạo và nền đại học Việt Nam. Vượt lên những khó khăn, các thế hệ cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên, sinh viên, học sinh đã tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường.
Trường ĐHSPHN đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng "máy cái của ngành giáo dục", trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng.
Tính đến năm 2004, trường ĐHSPHN đã đào tạo 76.300 cử nhân (41.092 cử nhân chính qui, 26.910 cử nhân tại chức, 7.624 cử nhân từ xa, 674 cử nhân thuộc các hệ khác), 3.885 thạc sĩ (580 thạc sĩ Toán-Tin, 350 thạc sĩ Vật lí, 358 thạc sĩ Hóa học, 379 thạc sĩ Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp, 960 thạc sĩ Ngữ văn, 232 thạc sĩ Lịch sử, 205 thạc sĩ Địa lí, 703 thạc sĩ Tâm lí - Giáo dục, 28 thạc sĩ Sư phạm kĩ thuật, 4 thạc sĩ Giáo dục tiểu học và 86 thạc sĩ Giáo dục mầm non). Trường là cơ sở đào tạo sau đại học đầu tiên ở Việt Nam (bắt đầu đào tạo sau đại học từ năm 1970). Hàng năm, trường ĐHSPHN có 4.950 sinh viên chính qui, 2.000 sinh viên chuyên tu, 6.000 sinh viên tại chức, 25.000 sinh viên từ xa, 1.400 học viên thạc sĩ và 245 nghiên cứu sinh. Trường có 40 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 39 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2005, trường đã đào tạo 600 tiến sĩ (trong đó có 4 tiến sĩ khoa học) (146 tiến sĩ Ngữ văn, 106 tiến sĩ Tâm lí - Giáo dục, 83 tiến sĩ Địa lí, 80 tiến sĩ Sinh học, 52 tiến sĩ Lịch sử, 47 tiến sĩ Hóa học, 45 tiến sĩ Toán - Tin, 36 tiến sĩ Vật lí và 5 tiến sĩ Sư phạm kĩ thuật). Luận án tiến sĩ đầu tiên được bảo vệ ngày 23 tháng 4 năm 1970, luận án tiến sĩ thứ 100 được bảo vệ ngày 10 tháng 4 năm 1992, luận án tiến sĩ thứ 200 được bảo vệ ngày 12 tháng 10 năm 1995, luận án tiến sĩ thứ 300 được bảo vệ ngày 8 tháng 5 năm 1997, luận án tiến sĩ thứ 400 được bảo vệ ngày 19 tháng 1 năm 2001, luận án tiến sĩ thứ 500 được bảo vệ ngày 12 tháng 9 năm 2002 và lụân án tiến sĩ thứ 600 được bảo vệ ngày 28 tháng 4 năm 2005.
Theo “Thống kê Giáo dục và Đào tạo năm học 2004-2005” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2004-2005 trường ĐHSPHN tuyển mới 992 học viên cao học; có tổng cộng 218 nghiên cứu sinh và 1.677 học viên cao học; số người được cấp bằng tiến sĩ là 31 và số người được cấp bằng thạc sĩ là 589; tổng số sinh viên của trường là 57.946 (6.957 sinh viên hệ chính qui, 1.454 sinh viên liên kết đại học chính qui, 2354 sinh viên hệ chuyên tu, 10.733 sinh viên hệ tại chức, 36.448 sinh viên của các hệ khác) và số tuyển mới là 17.959 (1.951 sinh viên hệ chính qui, 977 sinh viên hệ chuyên tu, 2.187 sinh viên hệ tại chức và 12.844 sinh viên của các hệ khác); số sinh viên tốt nghiệp đại học là 6.250; số giảng viên là 807; tổng số cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên là 1.227 (807 giảng viên trong đó có 609 giảng viên biên chế, 70 giảng viên hợp đồng dài hạn, 362 nữ giảng viên, 24 GS, 126 PGS, 227 TSKH và TS, 177 ThS, 19 Nhà giáo Nhân dân và 74 Nhà giáo Ưu tú; giảng đường có tổng diện tích là 19.760 m2 và 181 phòng; phòng máy tính có tổng diện tích là 2.812 m2 và 36 phòng; thư viện có tổng diện tích là 6.334 m2 và 31 phòng; phòng thí nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m2 và 38 phòng.
Theo Báo cáo tổng kết năm học 2004-2005 của trường ĐHSPHN, trường có 6.983 sinh viên hệ chính qui trong đó có 1.453 sinh viên hệ chính qui theo địa chỉ, 46.768 sinh viên hệ không chính qui trong đó có 31.912 sinh viên hệ từ xa và 16.856 sinh viên hệ tại chức. Số sinh viên hệ chính qui tốt nghiệp đại học là 1.062 (tỉ lệ tốt nghiệp đại học là 92,59%, tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi là 11,68%, tỉ lệ tốt nghiệp loại khá là 59,04%, tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình khá là 29,2% và tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình là 0,09%). Trường tuyển mới 72 nghiên cứu sinh, 950 học viên cao học, 210 học viên dự án và mở một số lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ sau đại học. Có 80 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Nhà nước, 659 học viên cao học bảo vệ luận văn thạc sĩ và 300 học viên được cấp chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kì đổi mới, trường ĐHSPHN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được xã hội tín nhiệm và đánh giáo cao. Từ năm 1996 đến nay, trường đã tuyển được nhiều học sinh giỏi và đã đào tạo các cử nhân khoa học tài năng tại 7 khoa là khoa Toán, khoa Vật lí, khoa Hóa học, khoa Sinh - KTNN, khoa Ngữ văn, khoa Lịch sử và khoa Địa lí. Một số sinh viên của hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng được cử đi học nước ngoài. Nhiều sinh viên của trường đạt giải cao trong các kì thi Olympic về khoa học cơ bản và khoa học giáo dục. Hầu hết các cử nhân khoa học tài năng là nguồn cán bộ trẻ cho nhà trường và các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu và trường trung học phổ thông.
Một yếu tố quan trọng để bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học là cơ sở vật chất kĩ thuật. Cơ sở vật chất kĩ thuật của trường ngày càng được tăng cường. Nhà trường đã có đủ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập và phương tiện kĩ thuật phục vụ cho dạy và học. Nhà trường đã tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp và lành mạnh. Trường ĐHSPHN kiên trì thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "... làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước".
Trường ĐHSPHN là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành. Trường có hơn 2.000 công trình nghiên cứu khoa học. Trong giai đoạn 1996-2003, trường có trên 600 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc các chương trình trọng điểm quốc gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài trọng điểm cấp Bộ,... Nhiều nhà khoa học của trường trở thành các nhà khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế và được nhận các Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước. Trong năm học 2004-2005, trường đã tiến hành nghiệm thu 135 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 44 đề tài cấp Bộ và 65 đề tài cấp Trường. Hiện nay, trường đang triển khai 172 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 77 đề tài cấp Bộ, 113 đề tài cấp Trường trong đó có 25% số đề tài phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo. Các đề tài bao gồm các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng sản xuất phục vụ đời sống và khoa học sư phạm phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo cử nhân chất lượng cao và sau đại học. Trường kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học thông qua hướng nghiên cứu gắn với các đề tài luận án. Kinh phí cấp cho nghiên cứu khoa học ngày một tăng. Từ kinh phí nghiên cứu hàng năm khoảng 400 triệu đồng đến nay là xấp xỉ 8 tỉ đồng. Đó là chưa kể đến kinh phí cho các dự án, chương trình nghiên cứu như Dự án Phòng thí nghiệm Hóa - Công nghệ sinh học (hơn 29 tỉ đồng), Dự án nghiên cứu vùng sinh thái- kinh tế sông Đà (3 tỉ đồng), Dự án Sida (3 tỉ đồng), Dự án tăng cường trang thiết bị cho Viện Nghiên cứu sư phạm (3 tỉ đồng), Dự án lưu trữ gen (200 triệu đồng), Dự án phát triển giống lúa đột biến (300 triệu đồng), Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin (500 triệu đồng),… Kinh phí đầu tư trang thiết bị hàng năm phục vụ cho nghiên cứu và đào tạo khoảng 3 đến 4 tỉ đồng trong đó ưu tiên đầu tư trọng điểm cho một số phòng thí nghiệm quan trọng. Trường còn triển khai nghiên cứu đưa công nghệ thông tin và giáo dục môi trường vào các trường phổ thông (xây dựng hơn 100 phần mềm đổi mới phương pháp dạy và học, tổ chức lớp học và cấp 500 chứng chỉ bồi dưỡng công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên của 44 Sở Giáo dục và Đào tạo, tổ chức lớp học và cấp 350 chứng chỉ Giáo dục môi trường cho học viên của 40 Sở Giáo dục và Đào tạo, mở 20 lớp bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho cán bộ trong toàn trường).
Nhờ có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hùng hậu, Trường ĐHSPHN có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng cao nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư phạm. Hai phần ba số tác giả biên soạn sách giáo khoa phổ thông là cán bộ của trường. Từ năm 1996 đến năm 2003, trường đã biên soạn 223 đầu sách giáo trình và tài liệu tham khảo. Nhà xuất bản ĐHSP của trường tuy mới thành lập nhưng đã xuất bản 147 đầu sách với số lượng hàng vạn bản. Nhà trường rất chú trọng và đẩy mạnh chương trình đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lí và giảng dạy. Trong năm học 2004-2005, trường đã xuất bản 112 giáo trình cho các hệ chính qui và không chính qui. Để phục vụ nhiệm vụ cải cách giáo dục của Bộ, trong 2 năm 2004 -2005 các cán bộ của trường đã biên soạn 17 bộ sách giáo khoa THPT phân ban của các lớp 11 và 12, đóng góp ý kiến cho chương trình và sách giáo khoa THPT thí điểm, biên soạn và thẩm định tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 12 phân ban thí điểm, phối hợp với Bộ tổ chức hội thảo về chương trình và sách giáo khoa phân ban, biên soạn và thẩm định tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 12 phân ban thí điểm và tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên của các tỉnh miền núi.
Trường ĐHSPHN là một trong những trường có thành tích xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước. Hệ trung học phổ thông chuyên đã đào tạo gần 2.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông loại giỏi và xuất sắc. Có 36 học sinh đoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc và 11 Huy chương Đồng) tại các kì thi Olympic quốc tế. Đặc biệt là liên tục từ năm 1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương Vàng Olympic quốc tế và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Trường ĐHSPHN cũng là trường có thành tích cao trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Liên tục từ năm 1998 đến nay, trường đều có sinh viên đạt giải cao. Năm 2003 trường có hơn 600 công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận là một trong những đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Trong 10 năm trở lại đây, trường có 8 giải Nhất, 11 giải Nhì, 6 giải Ba, 20 giải Khuyến khích cấp Bộ của sinh viên nghiên cứu khoa học. Trường là một trong 7 trường đại học có thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học cao nhất trong cả nước.
Nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ trẻ. Chỉ trong những năm 1999 - 2005 trường đã kết nạp 325 đảng viên trong đó có 200 đảng viên là sinh viên và học viên sau đại học. Một số cán bộ của trường đã trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI






