TUÂN TỬ
298 – 238 trước Công Nguyên
1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI .
Tuân Tử tên Huống , tự Khanh, cũng tự Tôn Khanh. Đời Hán đặt tên sách của Tuân Tử là "Tôn Khanh Tử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô "Tuân Tử". Tuân Tử người nước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ, chỉ biết "Niên giám Tuân Tử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm Triệu Huệ Văn Vương nguyên niên, tức 298 tr. KN. TL và mất vào năm thứ 25 Sở Khảo Liệt Vương, tức 238 tr. CN. Đại để là, trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm về việc trau dồi học vấn, khoảng trước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước, từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thuở trước. Đúng vào năm 50 tuổi, Tuân Tử đến nước Tề. Tuy được người Tề hết sức kính nể, đã trước sau ba lần cử làm "Tế tửu , một danh hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến", nhưng rốt cuộc chẳng được trọng dụng. Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tử được gặp tể tướng Phạm Tuy. Lúc đó Tần là một cường quốc, thường ỷ thế mạnh đe dọa chư hầu. Phạm Tuy hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đối với Tần. Đáp lại câu hỏi đó, trước hết, Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn nữa là, quan lại dốc lòng vì dân, triều đình làm việc mau mắn. Nhưng tiếp theo thì vuốt mặt chẳng nể mũi, thẳng lời phê bình nước Tần hãy còn khiếm khuyết đạo Nho. Chiếu theo tiêu chuẩn của Tuân Tử thì, thiếu đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là linh hồn của quốc gia. Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cách thẳng thắn, chẳng ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêm túc, phải là phải, trái là trái của con người Nho học. Song cũng vì thế, nên Tuân Tử đã thiếu dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của mình, đành phải trở về cố quốc. Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từng biện luận phép dụng binh với Lâm Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu Thành Vương. Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị" của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyền mưu thế lợi " và "công đoạt biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ đoạn gian trá nào. Ngược lại, Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Người nhấn mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết "thiện phụ dân", tức là dựa vào sức mạnh của dân một cách hiệu quả. Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộ mới nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện phụ dân", là cái vốn quý nhất của người điều khiển chiến tranh.
Tiếc thay, ngay tại bản quốc cũng không đắc chí Tuân Tử lại tái xuất ngoại, sang nước Sở. Tại Sở, Tuân Tử được Xuân Thân Quân bổ làm huyện lệnh huyện Lan Lăng, rồi từ đó định cư luôn tại chỗ, không trở về cố quốc nữa. Vào những năm cuối cùng, lúc tuổi về già, Tuân Tử mở trường tư thục dạy học và viết sách, sáng lập ra học phái Lan Lăng, tạo dựng phong khí thư hương cho xứ này. Từ đó, học trò Lan Lăng hay lấy chữ "Khanh" đặt tự, để kỷ niệm thầy Tuân Tử.
Người đời sau hay hiểu một cách tổng quát là, lúc về già, Khổng Tử cùng Mạnh Tử đều cáo lão về vườn, lập ngôn và trước tác. Thật ra, bảo trọng Khổng - Mạnh lập ngôn là đúng, nhưng viết sách vị tất đã đúng. Riêng Tuân Tử, trong thời gian ở Lan Lăng, chẳng những đã lập ngôn, mà còn lập thư nữa. Ba mươi ba thiên trong cuốn sách mà Tuân Tử đã viết, là một bộ tác phẩm, có hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh nhất của phái Nho học thời Chu - lân. (Nói như vậy, không có nghĩa là cuốn "Tuân Tử" ngày nay, hoàn toàn do một tay Tuân Tử viết ra, bởi cổ tịch nào cũng có phần tả thêm, hoặc ít hoặc nhiều ngôn luận của các nhà Nho đời sau). Tuy rằng, trong triết lý tư tưởng của Tuân Tử, có một số khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng về lập trường căn bản của Người đối với thế sự, nhất là thái độ khẳng định giá trị lý tưởng chính trị của nhà Nho, thì chẳng có khác gì với Khổng - Mạnh. Có lẽ cũng vì thế mà cuộc đời của Tuân Tử cũng chẳng khác chi mấy, so với Khổng Tử và Mạnh Tử.
Tiếc thay, ngay tại bản quốc cũng không đắc chí Tuân Tử lại tái xuất ngoại, sang nước Sở. Tại Sở, Tuân Tử được Xuân Thân Quân bổ làm huyện lệnh huyện Lan Lăng, rồi từ đó định cư luôn tại chỗ, không trở về cố quốc nữa. Vào những năm cuối cùng, lúc tuổi về già, Tuân Tử mở trường tư thục dạy học và viết sách, sáng lập ra học phái Lan Lăng, tạo dựng phong khí thư hương cho xứ này. Từ đó, học trò Lan Lăng hay lấy chữ "Khanh" đặt tự, để kỷ niệm thầy Tuân Tử.
Người đời sau hay hiểu một cách tổng quát là, lúc về già, Khổng Tử cùng Mạnh Tử đều cáo lão về vườn, lập ngôn và trước tác. Thật ra, bảo trọng Khổng - Mạnh lập ngôn là đúng, nhưng viết sách vị tất đã đúng. Riêng Tuân Tử, trong thời gian ở Lan Lăng, chẳng những đã lập ngôn, mà còn lập thư nữa. Ba mươi ba thiên trong cuốn sách mà Tuân Tử đã viết, là một bộ tác phẩm, có hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh nhất của phái Nho học thời Chu - lân. (Nói như vậy, không có nghĩa là cuốn "Tuân Tử" ngày nay, hoàn toàn do một tay Tuân Tử viết ra, bởi cổ tịch nào cũng có phần tả thêm, hoặc ít hoặc nhiều ngôn luận của các nhà Nho đời sau). Tuy rằng, trong triết lý tư tưởng của Tuân Tử, có một số khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng về lập trường căn bản của Người đối với thế sự, nhất là thái độ khẳng định giá trị lý tưởng chính trị của nhà Nho, thì chẳng có khác gì với Khổng - Mạnh. Có lẽ cũng vì thế mà cuộc đời của Tuân Tử cũng chẳng khác chi mấy, so với Khổng Tử và Mạnh Tử.
2- Tư Tưởng Của Tuân Tử
Tuân Tử cũng như Mạnh Tử, cả hai đều là nhân vật lịch sử, thừa kế tư tưởng, phát triển học thuyết của đức thầy Khổng Tử, nhưng kết cuộc thì khác nhau về tao ngộ. Trên lịch sử Trung quốc, Mạnh Tử đã giành được một địa vị chỉ có dưới một nấc, so với Khổng Tử, sách "Mạnh Tử" được liệt vào mười ba kinh thư, mà tầng lớp trí thức cổ kim, ai nấy đều nên học hỏi theo truyền thống. Còn sách "Tuân Tử" thì trái lại, không được người đời coi trọng, thậm chí có chỗ còn bị coi như dị đoan". Xét ra thì có hai nguyên nhân, tạo nên hiện lượng bất thường này: Một là, vì Tuân Tử đề ra "Tính ác", ngược lại với "Tính thiện" của Mạnh Tử; hai là, có hai đệ tử của Tuân Tử sau này, là Hàn Phi cùng Lý Tư, đều là nhân vật chủ chốt, trong thế cuộc dẫn tới bạo chính của nhà Tần.
Người ta đã so sánh phần dị biệt về tư tưởng, giữa Tuân Tử với Mạnh Tử, ngoài vấn đề "tính ác" với "tính thiện" ra, còn có những điểm sau đây:
1/- Mạnh Tử thuộc về chủ nghĩa "tiên nghiệm"; Tuân Tử thuộc về chủ nghĩa "kinh nghiệm".
2/- Mạnh Tử chú trọng về "tâm tính", nhằm xây dựng một hệ thống triết lý cho Nho học; Tuân Tử thì để ý về vấn đề chính trị, xã hội nhiều hơn, nhằm giải quyết sự việc thật
3/- Trong phần tu dưỡng tâm tính, Mạnh Tử chủ trương "quả dục"; Tuân Tử chủ trương "túc dục".
4/- Về phần bổng lộc, Mạnh Tử vẫn giữ nguyên thể chế thế tập với thái độ bảo thủ; Tuân Tử thì chủ trương "vô đức bất quý, vô năng bất quan". (kẻ thiếu đức không đáng hưởng địa vị cao sang, người thiếu tài không được làm quan), có khuynh hướng chống quy tắc thế lộc (con cháu được hưởng lộc ông cha), muốn giải thoát con người ra ngoài cương tỏa của chế độ phong kiến.
5/- Mạnh Tử cố chấp về giá trị lý tưởng cao cả, coi nhẹ việc làm cho quốc gia giầu mạnh; Tuân Tử thích ứng với trào lưu mới hơn, luôn luôn nhấn mạnh, phải làm thế nào cho quốc gia phú cường.
Tuy nhiên, người ta công nhận, giữa Mạnh Tử và Tuân Tử cũng có nhiều điểm tương đồng sau đây:
(a) Cả hai đều tôn sùng Chu công và Khổng Tử, và có ý thức quý dân hơn vua.
(b) Đều nhấn mạnh, tánh cách quan trọng của đạo đức và nhân phẩm con người.
(c) Khinh miệt thuyết "hợp tung", "liên hoành" của Tô Tần và Trương Nghi.
(d) Phê phán rất nghiêm khắc, các học thuyết khác đương thời.
Nói chung, tư tưởng của Tuân Tử có những điểm nổi bật sau đây:
1/- Luận tâm theo lý tít Tuân Tử bảo: "Tâm tri đạo, nhiên hậu khả đạo; khả đạo nhiên hậu năng thủ đạo dĩ cấm phi đạo". (Khi lòng người đã hiểu đạo thì đạo mới hành; đạo có hành thì người ta mới giữ theo đạo và ngăn ngừa những gì trái đạo). Theo Tuân Tử thì, công dụng của "tâm" là để "tri đạo" nghĩa là đạo Ơ ngoài tâm, là đối tượng để cho tâm tìm hiểu một cách khách quan. Như vậy thì khác với tư tưởng của Khổng - Mạnh. cho là đạo ở ngay trong lòng người (tâm). Cũng bởi khác nhau về trạng thái tâm linh, cho nên Khổng - Mạnh đã trở thành giáo phái, Tuân Tử thì tự thành học phái. Kẻ thành giáo phái thuộc mẫu "Chúa cứu thế”; người thành học phái thuộc mẫu "nhà học vấn". Tư tưởng của hai đàng sở dĩ khác nhau, là bởi hai mẫu người khác nhau.
2/- Khi luận về trí thức, Tuân Tử rằng: "Phàm dĩ tri, nhân chi tính giã; khả dĩ trì, vật chi lý giã". (Sự hiểu biết là bản tính của con người; những gì mà người ta biết được, đó là lý lẽ của sự vật). Câu trước có hàm nghĩa "năng tri", câu sau có hàm nghĩa "Sở tri", năng tri và sở tri kết hợp nhau, là thành trí thức.
3/- Luận về Trời (Tạo hóa), Tuân Tử giữ thái độ hoài nghi, phủ định tính cách chủ tể của Trời, cho rằng Trời chẳng có liên can gì tới vấn đề trị loạn, hưng vong của thế gian. Thái độ này là điều kiện tất yếu cho nhà khoa học, trong số các nhà triết học truyền thống cổ Trung Quốc, ít ai có được lối nhìn quý hóa này.
4/- Tuân Tử chú trọng đặc biệt về trí thức, chủ trương để trí thức quyết định cho hành vi của con người. Điểm này có giá trị đặc biệt, bổ khuyết cho học thuyết Khổng - Mạnh, bởi trong suốt cuộc đời, Khổng Tử chưa hề có lời khẳng định, tầm quan trọng của kinh nghiệm và trí thức.
5/- Dầu cho tư tưởng của Tuân Tử, có khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng Người không phủ định hẳn truyền thống nhà Chu, chẳng qua là, văn hóa nhà Chu đối với Khổng Tử, thì có ý nghĩa về đạo đức cùng giáo hóa, khi đến tay Tuân Tử thì áp dụng vào lý luận trí thức, xây dựng thành hệ thống Lễ, Nghĩa của quốc gia, xã hội. Đặc điểm này của Tuân Tử, rất ăn khớp với câu "Trí thức tức là đạo đức danh ngôn của triết gia Tây phương Sơcrates. Tiếc rằng, Tuân Tử chưa hoàn thành được toàn bộ triết lý theo quan niệm "trí thức luận", có lẽ Vì nguồn tư tưởng của Người đã bị giới hạn vô hình, bởi nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc chăng.
Ngoài năm điểm trên, trong tư tưởng của Tuân Tử, còn một điểm nổi bật nữa là, thuyết "Tính bản ác". Phần đông người ta đã hiểu lầm chân ý của Tuân Tử về tính ác của con người. Thật ra thì Tuân Tử có bảo: "Tính giả thiên chi tựu”. Nghĩa là khi sinh ra, người ta đã sẵn cái nhân tính tự nhiên. Nhân tính đó, ví như tờ giấy trắng, được nhuộm màu gì sẽ ra màu ấy. Sở dĩ nhân tính có thể thành ra ác, là bởi lòng người nảy sinh dục vọng, như Tuân Tử đã bảo: "Kim nhân chi tính, sinh nhi háo lợi yên, thuận chi, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên... Sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu háo thanh sắc yên, thuận chi, cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên. Nhiên tắc, túng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất xuất ư tranh đoạt, thạp ư phạm nhân loạn lý, nhi quy ư bạo... Dụng thử quan chi, nhiên tắc nhân chi tính ác minh dĩ". (Tính người ngày nay, trời sinh có kẻ hiếu lợi, do đó, mới sinh ra vấn đề tranh đoạt mà mất đi đức tính khiêm nhường... Trời sinh người ta có thứ dục vọng bởi tai mắt, thích nghe cái hay, nhìn cái đẹp do đó. mới sinh ra vấn đề dâm loạn, mà mất đi lễ nghĩa, đạo lý văn hóa. Vậy thì, nếu cứ chiều theo tính và thuận theo tình của con người, thì sẽ diễn ra cảnh tranh giành, phạm tội loạn ly, rồi quy hết về bạo lực... Cứ nhìn theo đó thì đã quá rõ ràng, tính người là ác vậy). Đấy là lý luận của Tuân Tử, giải thích tại sao bản tính của con người, từ chỗ trong trắng dẫn tới chỗ ác hại. Vậy phải làm sao để khử được ác, giúp cho con người hướng về thiện? Tuân Tử nhận định rằng, hành động tội ác của con người, là do hậu quả bị ảnh hưởng, bởi những yếu tố phản đạo lý trong văn hóa, vậy thì phải cậy những yếu tố hạp đạo lý trong văn hóa, mới có thể chữa trị được. Nói cách khác, phương pháp trừ ác của Tuân Tử là phát huy công dụng giáo hóa của Lễ và Nghĩa, rồi cậy Lễ, Nghĩa kìm hãm hành vi tham lam của con người. Thật ra, cách trừ ác của Tuân Tử nói trên, vốn là một lối phổ thông nhất, trong xã hội lễ giáo mà Trung Quốc đã có sẵn cái truyền thống đó. Chẳng qua vì người ta chỉ để ý đến cách giáo hóa bằng lòng "Nhân" của Khổng Tử và bằng đức "Nghĩa" của Mạnh Tử, mà chẳng nhớ tới cách giáo hóa Lễ, Nghĩa bằng phép vua của Tuân Tử đó thôi.
Vê mặt tư tưởng chính trị của Tuân Tử, một phần là thừa kế chủ thuyết của Khổng - Mạnh; phần khác là thuộc về sáng kiến riêng của Người. Trong phần thừa kế, có hai điểm rõ rệt nhất là "quý dân" và "thượng hiền". Sách "Tuân Tử" có rất nhiều chỗ nói về "quý dân" tựu trung có ba điểm chính:
(I) Thương dân nước sẽ mạnh, như câu "ái dân giả cường, bất ái dân giả nhược". (Kẻ thương dân thì mạnh, kẻ không thương dân là yếu)
(2) Thương dân thì chúa sẽ an vị, như câu "Quân giả châu giã; thứ nhân giả, thủy giã; thủy tắc tải châu, thủy lắc phúc châu, thử chi vị giã. Cố quân nhân giả, dục an, tắc mạc nhược bình chính ái dân dĩ". (Vua ví như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được thuyền. Cho nên kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và biết thương dân).
(3) Lập luận dân quý vua khinh, như câu "Thiên chi sinh dân, phi vi quân giã; thiên chi lập quân, dĩ vi dân giã". (Trời sinh ra dân, chẳng phải vì vua; trời lập ra vua ấy là vì dân). Điểm này hoàn toàn phù hợp với lời "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", của Mạnh Tử. Về phần "thượng hiền", cũng có ba quan điểm rõ rệt là:
(a) Chọn hiền sĩ có thể giúp cho vua an vị, như câu tuyển hiền trưởng... như thị tắc thứ nhân an chính; thứ nhân an chính, nhiên hậu quân tử an vị". (Tuyển dụng kẻ hiền tài giúp việc nước... như thế là dân sống yên nhờ chính trị tốt; dân có yên chính, thì chúa mới yên vị được).
(b) Đức phải xứng với vị, như câu "Vô đức bất quý, vô năng bất quan, vô công bất thưởng, vô tội bất phạt... (Kẻ thiếu đức không được ở địa vị cao sang, người kém tài thì không được làm quan, chẳng có công thì đừng thưởng, chẳng có tội thì đừng phạt...).
(c) Phê phán kẻ bất kính hiền, khác nào loài cầm thú, như câu "Nhân hiền nhi bất kính, tắc thị cầm thú giã". (Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy).
Riêng về phần sáng kiến độc đáo của Tuân Tử, tức là chủ nghĩa Lễ trị. Điều này sở dĩ khác biệt với Khổng - Mạnh, là vì trong vấn đề trị nước, Khổng - Mạnh định luận theo ý niệm đạo đức, có tính cách chủ quan; còn Tuân Tử thì định luận theo giáo hóa Lễ, Nghĩa, có tính cách khách quan. Lý do rất giản dị là, xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, chẳng phải là thứ xã hội pháp trị. nên chỉ trọng vào phép vua để trị nước chưa đủ, còn phải cậy vào Lễ, Nghĩa để giáo hóa và bổ túc, mới được hoàn hảo hơn. Do đó, Tuân Tử coi Lễ, Nghĩa là nền tảng của chính trị quốc gia, chẳng những là pháp chế để thống ngự thần dân, đồng thời còn là then chốt của cuộc trị loạn, hưng vong của một nước.
Người ta đã so sánh phần dị biệt về tư tưởng, giữa Tuân Tử với Mạnh Tử, ngoài vấn đề "tính ác" với "tính thiện" ra, còn có những điểm sau đây:
1/- Mạnh Tử thuộc về chủ nghĩa "tiên nghiệm"; Tuân Tử thuộc về chủ nghĩa "kinh nghiệm".
2/- Mạnh Tử chú trọng về "tâm tính", nhằm xây dựng một hệ thống triết lý cho Nho học; Tuân Tử thì để ý về vấn đề chính trị, xã hội nhiều hơn, nhằm giải quyết sự việc thật
3/- Trong phần tu dưỡng tâm tính, Mạnh Tử chủ trương "quả dục"; Tuân Tử chủ trương "túc dục".
4/- Về phần bổng lộc, Mạnh Tử vẫn giữ nguyên thể chế thế tập với thái độ bảo thủ; Tuân Tử thì chủ trương "vô đức bất quý, vô năng bất quan". (kẻ thiếu đức không đáng hưởng địa vị cao sang, người thiếu tài không được làm quan), có khuynh hướng chống quy tắc thế lộc (con cháu được hưởng lộc ông cha), muốn giải thoát con người ra ngoài cương tỏa của chế độ phong kiến.
5/- Mạnh Tử cố chấp về giá trị lý tưởng cao cả, coi nhẹ việc làm cho quốc gia giầu mạnh; Tuân Tử thích ứng với trào lưu mới hơn, luôn luôn nhấn mạnh, phải làm thế nào cho quốc gia phú cường.
Tuy nhiên, người ta công nhận, giữa Mạnh Tử và Tuân Tử cũng có nhiều điểm tương đồng sau đây:
(a) Cả hai đều tôn sùng Chu công và Khổng Tử, và có ý thức quý dân hơn vua.
(b) Đều nhấn mạnh, tánh cách quan trọng của đạo đức và nhân phẩm con người.
(c) Khinh miệt thuyết "hợp tung", "liên hoành" của Tô Tần và Trương Nghi.
(d) Phê phán rất nghiêm khắc, các học thuyết khác đương thời.
Nói chung, tư tưởng của Tuân Tử có những điểm nổi bật sau đây:
1/- Luận tâm theo lý tít Tuân Tử bảo: "Tâm tri đạo, nhiên hậu khả đạo; khả đạo nhiên hậu năng thủ đạo dĩ cấm phi đạo". (Khi lòng người đã hiểu đạo thì đạo mới hành; đạo có hành thì người ta mới giữ theo đạo và ngăn ngừa những gì trái đạo). Theo Tuân Tử thì, công dụng của "tâm" là để "tri đạo" nghĩa là đạo Ơ ngoài tâm, là đối tượng để cho tâm tìm hiểu một cách khách quan. Như vậy thì khác với tư tưởng của Khổng - Mạnh. cho là đạo ở ngay trong lòng người (tâm). Cũng bởi khác nhau về trạng thái tâm linh, cho nên Khổng - Mạnh đã trở thành giáo phái, Tuân Tử thì tự thành học phái. Kẻ thành giáo phái thuộc mẫu "Chúa cứu thế”; người thành học phái thuộc mẫu "nhà học vấn". Tư tưởng của hai đàng sở dĩ khác nhau, là bởi hai mẫu người khác nhau.
2/- Khi luận về trí thức, Tuân Tử rằng: "Phàm dĩ tri, nhân chi tính giã; khả dĩ trì, vật chi lý giã". (Sự hiểu biết là bản tính của con người; những gì mà người ta biết được, đó là lý lẽ của sự vật). Câu trước có hàm nghĩa "năng tri", câu sau có hàm nghĩa "Sở tri", năng tri và sở tri kết hợp nhau, là thành trí thức.
3/- Luận về Trời (Tạo hóa), Tuân Tử giữ thái độ hoài nghi, phủ định tính cách chủ tể của Trời, cho rằng Trời chẳng có liên can gì tới vấn đề trị loạn, hưng vong của thế gian. Thái độ này là điều kiện tất yếu cho nhà khoa học, trong số các nhà triết học truyền thống cổ Trung Quốc, ít ai có được lối nhìn quý hóa này.
4/- Tuân Tử chú trọng đặc biệt về trí thức, chủ trương để trí thức quyết định cho hành vi của con người. Điểm này có giá trị đặc biệt, bổ khuyết cho học thuyết Khổng - Mạnh, bởi trong suốt cuộc đời, Khổng Tử chưa hề có lời khẳng định, tầm quan trọng của kinh nghiệm và trí thức.
5/- Dầu cho tư tưởng của Tuân Tử, có khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng Người không phủ định hẳn truyền thống nhà Chu, chẳng qua là, văn hóa nhà Chu đối với Khổng Tử, thì có ý nghĩa về đạo đức cùng giáo hóa, khi đến tay Tuân Tử thì áp dụng vào lý luận trí thức, xây dựng thành hệ thống Lễ, Nghĩa của quốc gia, xã hội. Đặc điểm này của Tuân Tử, rất ăn khớp với câu "Trí thức tức là đạo đức danh ngôn của triết gia Tây phương Sơcrates. Tiếc rằng, Tuân Tử chưa hoàn thành được toàn bộ triết lý theo quan niệm "trí thức luận", có lẽ Vì nguồn tư tưởng của Người đã bị giới hạn vô hình, bởi nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc chăng.
Ngoài năm điểm trên, trong tư tưởng của Tuân Tử, còn một điểm nổi bật nữa là, thuyết "Tính bản ác". Phần đông người ta đã hiểu lầm chân ý của Tuân Tử về tính ác của con người. Thật ra thì Tuân Tử có bảo: "Tính giả thiên chi tựu”. Nghĩa là khi sinh ra, người ta đã sẵn cái nhân tính tự nhiên. Nhân tính đó, ví như tờ giấy trắng, được nhuộm màu gì sẽ ra màu ấy. Sở dĩ nhân tính có thể thành ra ác, là bởi lòng người nảy sinh dục vọng, như Tuân Tử đã bảo: "Kim nhân chi tính, sinh nhi háo lợi yên, thuận chi, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên... Sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu háo thanh sắc yên, thuận chi, cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên. Nhiên tắc, túng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất xuất ư tranh đoạt, thạp ư phạm nhân loạn lý, nhi quy ư bạo... Dụng thử quan chi, nhiên tắc nhân chi tính ác minh dĩ". (Tính người ngày nay, trời sinh có kẻ hiếu lợi, do đó, mới sinh ra vấn đề tranh đoạt mà mất đi đức tính khiêm nhường... Trời sinh người ta có thứ dục vọng bởi tai mắt, thích nghe cái hay, nhìn cái đẹp do đó. mới sinh ra vấn đề dâm loạn, mà mất đi lễ nghĩa, đạo lý văn hóa. Vậy thì, nếu cứ chiều theo tính và thuận theo tình của con người, thì sẽ diễn ra cảnh tranh giành, phạm tội loạn ly, rồi quy hết về bạo lực... Cứ nhìn theo đó thì đã quá rõ ràng, tính người là ác vậy). Đấy là lý luận của Tuân Tử, giải thích tại sao bản tính của con người, từ chỗ trong trắng dẫn tới chỗ ác hại. Vậy phải làm sao để khử được ác, giúp cho con người hướng về thiện? Tuân Tử nhận định rằng, hành động tội ác của con người, là do hậu quả bị ảnh hưởng, bởi những yếu tố phản đạo lý trong văn hóa, vậy thì phải cậy những yếu tố hạp đạo lý trong văn hóa, mới có thể chữa trị được. Nói cách khác, phương pháp trừ ác của Tuân Tử là phát huy công dụng giáo hóa của Lễ và Nghĩa, rồi cậy Lễ, Nghĩa kìm hãm hành vi tham lam của con người. Thật ra, cách trừ ác của Tuân Tử nói trên, vốn là một lối phổ thông nhất, trong xã hội lễ giáo mà Trung Quốc đã có sẵn cái truyền thống đó. Chẳng qua vì người ta chỉ để ý đến cách giáo hóa bằng lòng "Nhân" của Khổng Tử và bằng đức "Nghĩa" của Mạnh Tử, mà chẳng nhớ tới cách giáo hóa Lễ, Nghĩa bằng phép vua của Tuân Tử đó thôi.
Vê mặt tư tưởng chính trị của Tuân Tử, một phần là thừa kế chủ thuyết của Khổng - Mạnh; phần khác là thuộc về sáng kiến riêng của Người. Trong phần thừa kế, có hai điểm rõ rệt nhất là "quý dân" và "thượng hiền". Sách "Tuân Tử" có rất nhiều chỗ nói về "quý dân" tựu trung có ba điểm chính:
(I) Thương dân nước sẽ mạnh, như câu "ái dân giả cường, bất ái dân giả nhược". (Kẻ thương dân thì mạnh, kẻ không thương dân là yếu)
(2) Thương dân thì chúa sẽ an vị, như câu "Quân giả châu giã; thứ nhân giả, thủy giã; thủy tắc tải châu, thủy lắc phúc châu, thử chi vị giã. Cố quân nhân giả, dục an, tắc mạc nhược bình chính ái dân dĩ". (Vua ví như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được thuyền. Cho nên kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và biết thương dân).
(3) Lập luận dân quý vua khinh, như câu "Thiên chi sinh dân, phi vi quân giã; thiên chi lập quân, dĩ vi dân giã". (Trời sinh ra dân, chẳng phải vì vua; trời lập ra vua ấy là vì dân). Điểm này hoàn toàn phù hợp với lời "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", của Mạnh Tử. Về phần "thượng hiền", cũng có ba quan điểm rõ rệt là:
(a) Chọn hiền sĩ có thể giúp cho vua an vị, như câu tuyển hiền trưởng... như thị tắc thứ nhân an chính; thứ nhân an chính, nhiên hậu quân tử an vị". (Tuyển dụng kẻ hiền tài giúp việc nước... như thế là dân sống yên nhờ chính trị tốt; dân có yên chính, thì chúa mới yên vị được).
(b) Đức phải xứng với vị, như câu "Vô đức bất quý, vô năng bất quan, vô công bất thưởng, vô tội bất phạt... (Kẻ thiếu đức không được ở địa vị cao sang, người kém tài thì không được làm quan, chẳng có công thì đừng thưởng, chẳng có tội thì đừng phạt...).
(c) Phê phán kẻ bất kính hiền, khác nào loài cầm thú, như câu "Nhân hiền nhi bất kính, tắc thị cầm thú giã". (Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy).
Riêng về phần sáng kiến độc đáo của Tuân Tử, tức là chủ nghĩa Lễ trị. Điều này sở dĩ khác biệt với Khổng - Mạnh, là vì trong vấn đề trị nước, Khổng - Mạnh định luận theo ý niệm đạo đức, có tính cách chủ quan; còn Tuân Tử thì định luận theo giáo hóa Lễ, Nghĩa, có tính cách khách quan. Lý do rất giản dị là, xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, chẳng phải là thứ xã hội pháp trị. nên chỉ trọng vào phép vua để trị nước chưa đủ, còn phải cậy vào Lễ, Nghĩa để giáo hóa và bổ túc, mới được hoàn hảo hơn. Do đó, Tuân Tử coi Lễ, Nghĩa là nền tảng của chính trị quốc gia, chẳng những là pháp chế để thống ngự thần dân, đồng thời còn là then chốt của cuộc trị loạn, hưng vong của một nước.
3- Công Tích Của Tuân Tử Đối Với Nho Học
Giả thử chúng ta nhìn Nho học bằng khái niệm tổng quát, thì thấy Khổng Tử thuộc về đạo "Nhân", Mạnh Tử thuộc về đạo "Nghĩa", còn Tuân Tử thì thuộc về đạo "Trí". Nhân giả, giàu tình thương, có lòng thành khẩn và tâm hồn quảng đạt; Nghĩa giả, cương trực tiết tháo, thị phi phân minh, biểu lộ khí phách hiên ngang, độc lập của phần tử trí thức; Trí giả, nhận xét sự vật bằng lý tính, phải là phải, trái là trái, không bị ảnh hưởng bởi tình cảm. Dùng lý trí khách quan của Tuân Tử, bổ túc cho đạo đức chủ quan của Khổng - Mạnh, giúp cho chủ thuyết Nho học càng hoàn hảo hơn, hội đủ điều kiện tất yếu, vừa là giáo phái, vừa là học phái. Phần bổ túc đó, có ba điểm trọng đại nhất sau đây:
1/- Túc dục: Khổng Tử từng chủ trương "tiên phú hậu giáo" Mạnh Tử cũng từng khuyên vua chúa, nên hữu sản hóa cho lê dân, chứng tỏ Nho học đã có sẵn quan niệm "túc dục" (thỏa mãn cho đòi hỏi). Song, quan niệm đó, vô tình lại mâu thuẫn với giá trị căn bản trong tư tưởng Khổng - Mạnh, như Khổng Tử từng bảo: "Quân tử mưu đạo bất mưu thực". Và Mạnh Tử cũng kêu gọi người đời nên "quả dục" (bớt đòi hỏi đi). Trái lại, giá trị căn bản của Tuân Tử bất do Nhân, bất do Nghĩa mà đánh giá vào chữ LỄ". Một trong những công hiệu của Lễ, là "Dưỡng nhân chi dục cấp nhân chi cầu”. (Chấp nhận những đòi hỏi chính đáng của người ta, và thỏa mãn theo nhu cầu cho người ta). Cho nên Tuân Tử đề xướng chính sách tăng gia sản xuất cho nước giàu mạnh, đặng có đủ điều kiện "túc dục" cho dân.
2/- Hợp quần: Đây là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng). Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có bốn điểm chánh sau đây:
(1) Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.
(2) Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.
(3) Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.
(4) Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.
3/- Bình đẳng: Khổng Tử từng chủ trương bình đẳng về kinh tế, như câu: "Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân". (Chẳng lo ít, chỉ lo chia không đều), nhưng tư tưởng bình đẳng của Tuân Tử thì hướng về địa vị xã hội nhiều hơn.
Bởi vì đưa ra chủ trương bình đẳng về kinh tế, trong lúc xã hội cổ Trung Quốc còn rất nghèo nàn về điều kiện vật chất, xét ra chẳng có ý nghĩa gì cho lắm. Trái lại, ý thức bình đẳng về địa vị xã hội, mới đúng là một đòn đả kích mạnh, nhắm vào chếđộ phong kiến, một thể chế chính trị bất hợp lý của tầng lớp quý tộc. Riêng về điểm này, Tuân Tử đã nói rất rõ: "Tuy vương, công, sĩ đại phu chi tử tôn, bất năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi thứ nhân; tuy thứ nhân chi tử tôn giã, tích văn học, chánh thân hạnh, năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi khanh tướng, sĩ đại phu . (Dù là con cháu của bậc vương công, sĩ đại phu chăng nữa, nếu chẳng vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên đánh xuống hạng thường dân; tuy là con cháu của thường dân, giá như có học thức cao, hạnh kiểm tốt, thuộc vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên nâng lên hàng khanh tướng, sĩ đại phu).
Tuân Tử có thể kết luận là, một triết gia theo chủ nghĩa nhân bản. Ở Trung Quốc, Khổng Tử là người khởi xướng chủ nghĩa nhân bản, nhưng so sánh ra thì, chủ nghĩa nhân bản của Tuân Tử có nhiều tiến bộ hơn. Một là, tuy Tuân Tử cũng nhiệt tình với nền văn hóa truyền thống, nhưng không có ý phục cổ, trái lại, còn rất mạnh dạn phê bình người xưa. Ngoài Khổng Tử ra, ít có nhân vật tiêu biểu nào trong các học phái thời Chu Tần, thoát khỏi lời phê bình của Tuân Tử, kể cả Mạnh Tử và Tử Tư. Tuy nhiên, khi phê bình, Tuân Tử luôn luôn đứng vào cương vị học thuật để đánh giá tư tưởng của người khác. Hai là, Tuân Tử chú trọng thực tiễn hơn là lý thuyết suông, cho nên luôn luôn nhấn mạnh vấn đề chính trị xã hội, gạt bỏ mọi ý tưởng than thoại ảo huyền, theo đuổi lý tưởng giải phóng con người. Đáng liếc là, lừ đời Chu Tần trở đi, xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội nặng về truyền thống, chính trị Trung Quốc vẫn là chính trị chuyên chếvua quan, thiếu các chất tố dân chủ khoa học như trong xã hội Tây phương, rút cuộc phong trào nhân văn, mà các triết gia thời Chu Tần đã khởi xướng trước đây trên hai ngàn năm, bị mai một từ đời nọ qua đời kia.
1/- Túc dục: Khổng Tử từng chủ trương "tiên phú hậu giáo" Mạnh Tử cũng từng khuyên vua chúa, nên hữu sản hóa cho lê dân, chứng tỏ Nho học đã có sẵn quan niệm "túc dục" (thỏa mãn cho đòi hỏi). Song, quan niệm đó, vô tình lại mâu thuẫn với giá trị căn bản trong tư tưởng Khổng - Mạnh, như Khổng Tử từng bảo: "Quân tử mưu đạo bất mưu thực". Và Mạnh Tử cũng kêu gọi người đời nên "quả dục" (bớt đòi hỏi đi). Trái lại, giá trị căn bản của Tuân Tử bất do Nhân, bất do Nghĩa mà đánh giá vào chữ LỄ". Một trong những công hiệu của Lễ, là "Dưỡng nhân chi dục cấp nhân chi cầu”. (Chấp nhận những đòi hỏi chính đáng của người ta, và thỏa mãn theo nhu cầu cho người ta). Cho nên Tuân Tử đề xướng chính sách tăng gia sản xuất cho nước giàu mạnh, đặng có đủ điều kiện "túc dục" cho dân.
2/- Hợp quần: Đây là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng). Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có bốn điểm chánh sau đây:
(1) Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.
(2) Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.
(3) Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.
(4) Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.
3/- Bình đẳng: Khổng Tử từng chủ trương bình đẳng về kinh tế, như câu: "Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân". (Chẳng lo ít, chỉ lo chia không đều), nhưng tư tưởng bình đẳng của Tuân Tử thì hướng về địa vị xã hội nhiều hơn.
Bởi vì đưa ra chủ trương bình đẳng về kinh tế, trong lúc xã hội cổ Trung Quốc còn rất nghèo nàn về điều kiện vật chất, xét ra chẳng có ý nghĩa gì cho lắm. Trái lại, ý thức bình đẳng về địa vị xã hội, mới đúng là một đòn đả kích mạnh, nhắm vào chếđộ phong kiến, một thể chế chính trị bất hợp lý của tầng lớp quý tộc. Riêng về điểm này, Tuân Tử đã nói rất rõ: "Tuy vương, công, sĩ đại phu chi tử tôn, bất năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi thứ nhân; tuy thứ nhân chi tử tôn giã, tích văn học, chánh thân hạnh, năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi khanh tướng, sĩ đại phu . (Dù là con cháu của bậc vương công, sĩ đại phu chăng nữa, nếu chẳng vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên đánh xuống hạng thường dân; tuy là con cháu của thường dân, giá như có học thức cao, hạnh kiểm tốt, thuộc vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên nâng lên hàng khanh tướng, sĩ đại phu).
Tuân Tử có thể kết luận là, một triết gia theo chủ nghĩa nhân bản. Ở Trung Quốc, Khổng Tử là người khởi xướng chủ nghĩa nhân bản, nhưng so sánh ra thì, chủ nghĩa nhân bản của Tuân Tử có nhiều tiến bộ hơn. Một là, tuy Tuân Tử cũng nhiệt tình với nền văn hóa truyền thống, nhưng không có ý phục cổ, trái lại, còn rất mạnh dạn phê bình người xưa. Ngoài Khổng Tử ra, ít có nhân vật tiêu biểu nào trong các học phái thời Chu Tần, thoát khỏi lời phê bình của Tuân Tử, kể cả Mạnh Tử và Tử Tư. Tuy nhiên, khi phê bình, Tuân Tử luôn luôn đứng vào cương vị học thuật để đánh giá tư tưởng của người khác. Hai là, Tuân Tử chú trọng thực tiễn hơn là lý thuyết suông, cho nên luôn luôn nhấn mạnh vấn đề chính trị xã hội, gạt bỏ mọi ý tưởng than thoại ảo huyền, theo đuổi lý tưởng giải phóng con người. Đáng liếc là, lừ đời Chu Tần trở đi, xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội nặng về truyền thống, chính trị Trung Quốc vẫn là chính trị chuyên chếvua quan, thiếu các chất tố dân chủ khoa học như trong xã hội Tây phương, rút cuộc phong trào nhân văn, mà các triết gia thời Chu Tần đã khởi xướng trước đây trên hai ngàn năm, bị mai một từ đời nọ qua đời kia.
Tags:
HỌC TẬP - NGHIÊN CỨU
TRANG TỬ
1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI .
Trang Tử tên Chu, người nước Tống gần như cùng thời với Mạnh Tử, nhưng vì là một "ẩn giả", cho nên đời sau chẳng được rõ làm về thân thế cùng đời tư của Trang Tử. Tuy nhiên, trong giới trí thức Trung Quốc, xưa cũng như nay, ít có ai lại chẳng biết đến Trang Tử, bởi Người đã có trước tác để lại trên trăm ngàn lời, trong đó có rất nhiều truyện ngụ ngôn, liên quan tới đời sống bản thân của Trang Tử. Dù cho những truyện đó có thật hay giả tạo, cũng đã dựng lên một hình bóng Trang Tử sống động trong lòng người, lưu truyền trên lịch sử Trung Quốc hơn hai ngàn năm nay. Thật ra phần đông người Trung Hoa vẫn chưa rõ lắm về triết lý nhân sinh của Trang Tử, nhưng ai nấy đều thích nghe truyện Trang Tử. Từ đó, người ta cũng đã hiểu được phần nào, Trang Tử là một con người ra sao.
Đời sống vật chất của Trang Tử rất ư nghèo nàn. Có lần mặc áo vá, kéo đôi giày rách, vào điện yết kiến Nguỵ vương. Vua hỏi: "Trông tiên sinh sao có vẻ mệt mỏi thế? Trang Tử đáp: "Tôi vốn nghèo,. nhưng chẳng mệt mỏi tí nào". Ý nói là, "tôi chỉ thiếu thốn về điều kiện vật chất bên ngoài thôi, trong thâm tâm tôi, vẫn chan chứa thiên cơ được vui sống như ai". Lại có lần, vì hết gạo nấu cháo, Trang Tử vác mặt đi hỏi vay vị Giám hà Hầu. Hầu bảo: "Được rồi chờ ta lãnh lương sê cho ban vay ba trăm nén vàng. Chịu không?" Trang Tử đáp lại bằng câu truyện: "Hôm qua, Chu này gặp kẻ hô hoán giữa đường, nhìn lại thấy dưới vết xe có con cá chép. Hỏi cá làm sao thế? Đáp rằng: Ta vốn là thần sóng ở biển đông, nay nhờ mi giúp cho một chậu nước, được chăng? Chu bảo: Được lắm, để ta nam du đến xứ Ngô, Việt, rồi dồn hết nước Tây giang mà đón ngươi. Chịu không? Cá giận thất sắc: Ta đã mất môi trường sinh sống bình thường, thiếu chỗ nương thân, chỉ cần một chậu nước thôi, chẳng ngờ mi lại nói như vậy, chi bằng xỏ mang ta xách vào chợ cá còn hơn". Đây, chỉ là câu truyện ngụ ngôn, nhưng cũng đủ cho ta thấy, đời sống vật chất của Trang Tử cùng quẫn đến mức nào rồi. Trong xã hội thời cổ Trung Quốc, vì điều kiện kinh tế còn thiếu thốn, phần đông thường dân sống trong cảnh nghèo túng. Phàm là người học trò, nếu muốn thoát cảnh nghèo khó, con đường duy nhất là ra làm quan. Sự thật đã chứng minh, thời đại đó có nhiều người học trò nhờ làm quan mà vinh thân phì gia, hoặc lưu danh sử sách. Nhưng chẳng may, trên đời lại có những hạng người, trời sanh ra không thể làm quan được, trong số đó, Trang Tử là nhân vật điển hình nhất, bởi Người coi phú quý như đám mây trôi, lắm khi phú quý còn là cạm bẫy của đời người nữa là khác. Có lần Trang Tử đang ngồi câu cá ở bờ sông Bốc, Sở vương sai hai vị Đại phu đến mời ra làm quan, Trang Tử vẫn thản nhiên cầm cần bảo: "Ta nghe đâu nước Sở có con rùa thần, đã chết đi ba ngàn năm rồi, nay được nhà vua dùng khăn lụa gói kỹ, đặt vào khay vàng thờ nơi miếu đường. Vậy theo các Ngài nghĩ, rùa muốn sau khi chết để lại xác quý như vậy, hay là thích lúc còn sống, được ngoáy đuôi dưới ao đìa?" Hai Đại phu đáp rằng: "Chắc chắn là thích ngoáy đuôi dưới ao đìa hơn". Trang Tử tiếp lời ngay: " Thế thì các Ngài để cho tôi được ngoáy đuôi dưới ao đìa thôi". "Ngoáy đuôi dưới ao đìa", là một câu nói tượng trưng cho đời sống tự do thoải mái, mà Trang Tử cho là quý hơn hết.
Thời Chiến Quốc, đang lúc những người có học đua nhau đi du thuyết các nước, mong được quốc quân nào trọng dụng, hòng đạt được mục đích sang giàu, thì với Trang Tử, Người sẵn sàng trả giá rất đắt bằng cơ hàn suốt đời để được sống thảnh thơi giữa trời đất. Thiên Liệt ngự khấu, sách "Trang Tử" có đoạn viết ràng: "Lúc Trang Tử lâm chung, các đệ tử đang lo việc hậu táng thầy. Trang Tử bảo: "Ta có trời đất làm áo quan, có thái dương cùng trăng sao làm châu ngọc, và có cả vạn vật làm chay đưa đám, nào còn thiếu gì đâu mà các con phải lo?" Đệ tử thưa: "Nếu không được mai táng kỹ càng, chúng con e chim diều mổ xác thầy". Trang Tử bảo: "Thay vì nằm trên bị chim diều mổ xác, lại nằm dưới (mặt đất) để kiến mối phanh thây, vậy hơn kém ở chỗ nào". Suốt đời Trang Tử đối với bất cứ sự việc gì, đều giữ lấy thái độ khoáng đạt siêu nhiên, cả đến vấn đề chết cũng thế.
Trang Tử tên Chu, người nước Tống gần như cùng thời với Mạnh Tử, nhưng vì là một "ẩn giả", cho nên đời sau chẳng được rõ làm về thân thế cùng đời tư của Trang Tử. Tuy nhiên, trong giới trí thức Trung Quốc, xưa cũng như nay, ít có ai lại chẳng biết đến Trang Tử, bởi Người đã có trước tác để lại trên trăm ngàn lời, trong đó có rất nhiều truyện ngụ ngôn, liên quan tới đời sống bản thân của Trang Tử. Dù cho những truyện đó có thật hay giả tạo, cũng đã dựng lên một hình bóng Trang Tử sống động trong lòng người, lưu truyền trên lịch sử Trung Quốc hơn hai ngàn năm nay. Thật ra phần đông người Trung Hoa vẫn chưa rõ lắm về triết lý nhân sinh của Trang Tử, nhưng ai nấy đều thích nghe truyện Trang Tử. Từ đó, người ta cũng đã hiểu được phần nào, Trang Tử là một con người ra sao.
Đời sống vật chất của Trang Tử rất ư nghèo nàn. Có lần mặc áo vá, kéo đôi giày rách, vào điện yết kiến Nguỵ vương. Vua hỏi: "Trông tiên sinh sao có vẻ mệt mỏi thế? Trang Tử đáp: "Tôi vốn nghèo,. nhưng chẳng mệt mỏi tí nào". Ý nói là, "tôi chỉ thiếu thốn về điều kiện vật chất bên ngoài thôi, trong thâm tâm tôi, vẫn chan chứa thiên cơ được vui sống như ai". Lại có lần, vì hết gạo nấu cháo, Trang Tử vác mặt đi hỏi vay vị Giám hà Hầu. Hầu bảo: "Được rồi chờ ta lãnh lương sê cho ban vay ba trăm nén vàng. Chịu không?" Trang Tử đáp lại bằng câu truyện: "Hôm qua, Chu này gặp kẻ hô hoán giữa đường, nhìn lại thấy dưới vết xe có con cá chép. Hỏi cá làm sao thế? Đáp rằng: Ta vốn là thần sóng ở biển đông, nay nhờ mi giúp cho một chậu nước, được chăng? Chu bảo: Được lắm, để ta nam du đến xứ Ngô, Việt, rồi dồn hết nước Tây giang mà đón ngươi. Chịu không? Cá giận thất sắc: Ta đã mất môi trường sinh sống bình thường, thiếu chỗ nương thân, chỉ cần một chậu nước thôi, chẳng ngờ mi lại nói như vậy, chi bằng xỏ mang ta xách vào chợ cá còn hơn". Đây, chỉ là câu truyện ngụ ngôn, nhưng cũng đủ cho ta thấy, đời sống vật chất của Trang Tử cùng quẫn đến mức nào rồi. Trong xã hội thời cổ Trung Quốc, vì điều kiện kinh tế còn thiếu thốn, phần đông thường dân sống trong cảnh nghèo túng. Phàm là người học trò, nếu muốn thoát cảnh nghèo khó, con đường duy nhất là ra làm quan. Sự thật đã chứng minh, thời đại đó có nhiều người học trò nhờ làm quan mà vinh thân phì gia, hoặc lưu danh sử sách. Nhưng chẳng may, trên đời lại có những hạng người, trời sanh ra không thể làm quan được, trong số đó, Trang Tử là nhân vật điển hình nhất, bởi Người coi phú quý như đám mây trôi, lắm khi phú quý còn là cạm bẫy của đời người nữa là khác. Có lần Trang Tử đang ngồi câu cá ở bờ sông Bốc, Sở vương sai hai vị Đại phu đến mời ra làm quan, Trang Tử vẫn thản nhiên cầm cần bảo: "Ta nghe đâu nước Sở có con rùa thần, đã chết đi ba ngàn năm rồi, nay được nhà vua dùng khăn lụa gói kỹ, đặt vào khay vàng thờ nơi miếu đường. Vậy theo các Ngài nghĩ, rùa muốn sau khi chết để lại xác quý như vậy, hay là thích lúc còn sống, được ngoáy đuôi dưới ao đìa?" Hai Đại phu đáp rằng: "Chắc chắn là thích ngoáy đuôi dưới ao đìa hơn". Trang Tử tiếp lời ngay: " Thế thì các Ngài để cho tôi được ngoáy đuôi dưới ao đìa thôi". "Ngoáy đuôi dưới ao đìa", là một câu nói tượng trưng cho đời sống tự do thoải mái, mà Trang Tử cho là quý hơn hết.
Thời Chiến Quốc, đang lúc những người có học đua nhau đi du thuyết các nước, mong được quốc quân nào trọng dụng, hòng đạt được mục đích sang giàu, thì với Trang Tử, Người sẵn sàng trả giá rất đắt bằng cơ hàn suốt đời để được sống thảnh thơi giữa trời đất. Thiên Liệt ngự khấu, sách "Trang Tử" có đoạn viết ràng: "Lúc Trang Tử lâm chung, các đệ tử đang lo việc hậu táng thầy. Trang Tử bảo: "Ta có trời đất làm áo quan, có thái dương cùng trăng sao làm châu ngọc, và có cả vạn vật làm chay đưa đám, nào còn thiếu gì đâu mà các con phải lo?" Đệ tử thưa: "Nếu không được mai táng kỹ càng, chúng con e chim diều mổ xác thầy". Trang Tử bảo: "Thay vì nằm trên bị chim diều mổ xác, lại nằm dưới (mặt đất) để kiến mối phanh thây, vậy hơn kém ở chỗ nào". Suốt đời Trang Tử đối với bất cứ sự việc gì, đều giữ lấy thái độ khoáng đạt siêu nhiên, cả đến vấn đề chết cũng thế.
2- Tư Tưởng của Trang Tử
Trang Tử chẳng những là một nhà triết học, đồng thời cũng là một nhà văn tài hoa xuất chúng. Sách của Người viết ra, chẳng cần triều đình, đế vương giới thiệu như các văn sĩ khác, cũng được tuyệt đại đa số trí thức ưa chuộng. Qua cuộc đời tĩnh tu, ý tưởng siêu phàm, Trang Tử là một nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn học Trung Quốc. Những "Tiêu diêu du”, "Hồ điệp mộng", đều là áng văn đẹp cả hình thức lẫn nội dung.
Bởi tư tưởng của Trang Tử bắt nguồn từ triết lý Đạo giáo, cho nên sách "Sử Ký" đem Lão Tử cùng Trang Tử ghép chung vào một học phái, gọi là "Lão Trang". Thật ra, giữa Lão Tử và Trang Tử có nhiều điểm khác nhau. Điểm thứ nhất là, tư tưởng của Lão Tử được diễn tả theo phương thức "phân giải", cho nên cần phải biện bạch các yếu tố nội và ngoại, gốc và ngọn, thô với tế và biến với thường v.v... Vì vậy mà Lão Tử chưa thể đạt tới cảnh giới “Du tâm ngoại vạn hóa" (Thả hồn ra khỏi mọi sự vật). Trái lại Trang Tử phản đối mọi hình thức "tương đãi” (đối chọi), cho nên trong cảnh giới tinh thần của Người, chẳng cần phân biệt đâu là thô là tế, đâu là biến là thường, đâu là nội là ngoại, đâu là gốc là ngọn, mà chỉ có "Dự thiên hạ vi nhất". (Cùng với trời đất là một) và "Tinh thần tứ đại tịnh lưu, vô sở bất cực". (Xuất thần thơi thảnh bốn phương, chẳng nơi nào không thấu tới). Điểm thứ hai là, tuy rằng Lão Tử cùng Trang Tử, cả hai đều chủ trương "Phản phác quy chân (Sống chất phác giản dị, trở về với chân thật của thiên nhiên), nhưng với Lão Tử là thái độ phản ứng, bởi chán ghét những hiện tượng đấu tranh quyền lực, đời sống xa xỉ và tâm địa xảo trá của nhóm chính trị quyền thế. Riêng với Trang Tử thì vì lẽ khác, Người quý trọng giá trị chân chính của sinh mạng con người hơn tất cả. Cho nên Trang Tử cực lực chống lại chế độ và tập tục truyền thống, cho rằng những thứ đó, đều gây phương hại cho bản chất chân thật của mạng sống con người. Nói chung, tư tưởng của hai vị thánh tổ Đạo giáo, đều có ảnh hưởng sâu rộng đến nền triết học Trung Quốc, nhưng Lão Tử thuộc về lãnh vực chính trị nhiều hơn, còn Trang Tử thì thuộc về lãnh vực lẽ sống của con người.
Tư tưởng của Trang Tử chứa đựng rất nhiều yếu tố khích động về tình cảm, lệch sang thái độ nhạo đời bởi hai nguyên do: Một là, dưới con mắt của Trang Tử, nhà Nho học Khổng Mạnh mong sao ổn định được thế cuộc rối ren, bằng luân lý đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc v.v... Và nhóm theo Mặc Tử, thì bôn ba giữa các nước, kêu gọi hòa bình bằng thuyết "Kiêm ái phi công", đều là những chuyện làm phí công vô bổ, chẳng những không cứu vớt được ai, trái lại còn xúi cho "Khôn dại lừa nhau, trái phải đảo điên", càng làm cho thiên hạ rối thêm là đằng khác. Trang Tử ghét nhất là những kẻ khéo mồm ngụy biện, tự cho mình hiểu biết hơn ai. Cũng vì phủ định mọi giá trị biện luận về thị phi, nên Trang Tử có thái độ miệt thị trí thức, rồi chủ trương "Khí tri" (loại bỏ trí thức) y như Lão Tử vậy. Hai là, Trang Tử vốn người Tống (thuộc về miền đông tỉnh Hà Nam bây giờ), nằm vào vị trí, phía đông có Tề, Lỗ, bắc có Tấn, tây có Trịnh. Những nước này, nếu không là tôn thân (dòng họ bên nội), thì cũng là công thần hay ngoại thích (bà con bên ngoại) của nhà Chu. Riêng chỉ nước Tống vốn là dân Yên Thương tiên triều, bị nhà Chu chinh phục, lại độn vào giữa các nước thường hay chinh phạt, lấy đất Tống làm bãi chiến trường, khiến cho dân tình đói rét lầm than. Sống trong hoàn cảnh ác liệt đó, Trang Tử vừa cảm thấy thất vọng, vừa khao khát một lẽ sống tự do thư thới, tương xứng với giá trị con người hơn.
Huệ Thi là một người bạn chơi thân với Trang Tử. Nhưng bởi Huệ Thi vốn là một kẻ sĩ có tài hùng biện, nên cứ mỗi lần gặp mặt, là hai đàng tranh luận kịch liệt, và mỗi lần cãi nhau như vậy, chẳng ai chiu ai, bởi tư tưởng đôi bên khác nhau quá xa. Tuy nhiên, trước sau họ vẫn giữ được tình bạn tương kính và khăng khít, chứng tỏ Huệ Thi là một phần tử trí thức tài trí và đức độ. Sách "Trang Tử” có ghi nhiều mẩu truyện giao du, bàn cãi giữa đôi bạn này, cụ thể nhất là, truyện Trang Tử cùng Huệ Thi đưa nhau đi du ngoạn trên cầu mương. Bỗng nhiên Trang Tử chỉ xuống mương bảo: "Những con cá tự nhiên ra bơi lội thơi thảnh, như vậy cá sung sướng lắm thay". Huệ Thi hỏi: "Bạn chẳng là cá sao biết được cá nó sung sướng?" Trang Tử hỏi ngược lại: "Bạn chẳng là tôi, sao biết tôi không hiểu được cá đang sung sướng?" Huệ Thi đáp: "Tôi không là bạn, cố nhiên chẳng hiểu nổi bạn, nhưng bạn vốn không là cá, chắc chắn là chẳng hiểu được cá rồi". Cuối cùng Trang Tử bảo: "Thôi, chúng ta nên trở lại với câu đầu tiên lúc nãy đi. Bạn bảo rằng tôi không thể hiểu được cá đang sung sướng, vân vân và vân vân. Sự thật là bạn vốn biết rõ tôi thông cảm với tánh cá mà lại muốn nói như vậy chứ gì. Tôi đã hiểu được cá ngay khi đặt chân lên bờ mương này". Qua đoạn cãi lý đó, chúng ta thấy sự khác biệt quá xa về tư tưởng giữa hai người. Sở dĩ Trang Tử nhận thấy cá sung sướng, là dựa vào cảm giác chủ quan, với mối tình không ngăn cách, giữa tâm hồn cởi mở của con người cùng vạn vật theo trực giác, giàu tính chất văn nghệ. Còn đằng này thì, Huệ Thi xét vấn đề đó với thái độ trí thức, dĩ nhiên là quan niệm của hai đàng không thể gặp nhau được. Do đó, dù là một nhà biện luận trứ danh, Huệ Thi cũng chưa hiểu nổi cảnh giới tâm linh của Trang Tử. Triết lý chính yếu nhất của Trang Tử là DIỆT THỊ PHI, CHÔNG ĐỐI Lập: Lý tưởng của Trang Tử, cũng là mục tiêu cuối cùng trong triết lý của Trang Tử là, mở rộng một bầu trời mới mẻ cho đời sống con người, trở lại với tình cảm chân thật của sinh mạng. Để đạt tới lý tưởng này, trước tiên Trang Tử cố gắng dẹp bỏ hết nhũng gì mà Người cho là chướng ngại vật ngoại giới. Đó là "quan niệm thị phi" và "quan niệm đối lập" mà người đời hay kiên trì. Vậy tại sao người ta có quan niệm thi Phi? Trang Tử nhận định rằng, một là người ta có ăn thành kiến, dù là do cố chấp theo ý riêng hay do phán xét qua kiến thức và kinh nghiệm. Lời phán định của một nhà nào đó, ắt là cái nhìn bầu trời qua một lỗ nhỏ. Khi có một nhà dùng cái nhìn qua lỗ nhỏ đó mà phê phán trăm nhà khác, thì làm sao chẳng gây nên cuộc tranh chấp kẻ thị (phải) người phi (trái)? Dù người ta có dựa vào kiến thức đê chứng minh cho sự việc thì cũng thế thôi, bởi vì kiến thức nào cũng có giới hạn cả, hai là do tình cảm tạo nên, một khi tình cảm của con người được biểu lộ ra, đều có liên quan đến dục vọng của họ, nói toạc ra là, tình người luôn luôn bị dục vọng chi phối, đó là chướng ngại vật bên trong. Người ta ai cũng có lòng thương ghét, lại bị chi phối bởi dục vọng, cho nên mới sanh ra chuyện phải trái, như vậy thì vấn đề thị phi nào có tiêu chuẩn khách quan. Để tránh phải tranh chấp nhau về thị phi, Trang Tử chủ trương "vô tình". Khi đã vô tình, thì người ta không bị lòng thương ghét liên lụy đến bản thân. Ba là do cố chấp. Khi người ta đã cố chấp, thì tự cho mình là cái rốn của vũ trụ, là tiêu chuẩn của thị phi, thậm chí còn là hóa thân của chân lý: Do đó, ai theo ta là phải, ai nghịch ta là trái. Thiết tưởng ai cũng cố chấp như vậy, thì cuộc tranh chấp chẳng bao giờ ngưng, rồi đâu là phải, đâu là trái, vẫn là câu hỏi muôn thuở.
Đã thấy rô căn nguyên của thị phi rồi, Trang Tử còn giải thích thêm, những lý do không cần phải tranh luận về thị phi: Thứ nhất là, thị phi rất khó định mức, người nói theo lý lẽ của người, ta nói theo lý lẽ của ta, chẳng lẽ người ta đều sai hết, chỉ có mình là đúng thôi? Đối với Trang Tử, thật tình là chưa hề nghĩ tới vấn đề thị phi có tiêu chuẩn khách quan hay không, mà dù có đi chăng nữa, Trang Tử cũng bác bỏ như thường, bởi Người quan niệm thị phi là sự vật đối lập nhau, trái với bản chất của triết lý Trang Tử rằng là: "Tranh luận thị phi bao nhiêu, là làm tổn Đạo bấy nhiêu”. Bởi lẽ Đạo là nhất thể, không bài xích bất cứ một hiện tượng nào cả. Cho nên Trang Tử bảo rằng: "Tri thị phi chi bất khả vi phân, tế đại chi bất khả vi ni". (Ta thấy rõ điều thị phi rất khó phân định, như cái lớn với cái nhỏ vốn chẳng có manh mối nào). Thị phi là một hình thức trong hiện tượng đối lập mà Trang Tử chủ trương bài trừ. Hình thức đối lập rất nhiều, chẳng hạn như đẹp và xấu, thành và bại, khen và chê v.v... Nhưng theo cái nhìn của Trang Tử, thì vạn vật trời sanh chẳng có cái gọi là tốt hay xấu, thành hay bại, bới vạn vật do Đạo mà có (như Lão Tử đã viết trong Đạo Đức Kinh) chỉ là một, mọi sai biệt hay đối lập, đều được dung hòa quy hết về Đạo. Cho nên Trang Tử bảo rằng: "Dĩ Đạo quan chi, vật vô quý tiện". (Nhìn theo Đạo, thì vạn vật chẳng có phân biệt cái nào quý cái nào tiện), và rằng: "Vạn vật nhất tề, thục đoản thục trường". (Muôn vật ngang nhau, đâu có cái nào hơn, cái nào kém). Bởi lẽ, quý và tiện, hơn và kém đều là hình thức đối lập, mà Đạo thì siêu đối lập, cho nên nhìn theo Đạo là, vạn vật nhất tề, thấy quy về Đạo.
Những lý luận bác bỏ mọi hình thức đối lập trên đây của Trang Tử, không thể hiểu theo quan điểm của thế giới chứng nghiệm được, vì trong thế giới chứng nghiệm, giữa vạn vật bao giờ cũng khác nhau giữa cái đẹp với cái xấu, cái thành với cái bại, cái hay với cái dở, thậm chí "Thiên hạ chẳng bao giờ có hai giọt nước như nhau”. Như vậy là, triết lý của Trang Tử chẳng có liên quan gì tới trí thức và kinh nghiệm, mà là hướng về trọng tâm khai thác vấn đề nhân sinh, nhắm mục tiêu đi tìm giá trị chân chính của mạng sống con người, để trở thành đấng "Chân Nhân", không bị hiện tượng bên ngoài chi phối. Từ đó, người đời sau tôn xưng những nhân vật tu tiên thành chánh quả là "Chân Nhân", như "Thái ất chân nhân", "Vô cực chân nhân",... "Chân nhân" tức là con người thật, chẳng có chút giả tạo nào, như kẻ múa may trên đời.
Bởi tư tưởng của Trang Tử bắt nguồn từ triết lý Đạo giáo, cho nên sách "Sử Ký" đem Lão Tử cùng Trang Tử ghép chung vào một học phái, gọi là "Lão Trang". Thật ra, giữa Lão Tử và Trang Tử có nhiều điểm khác nhau. Điểm thứ nhất là, tư tưởng của Lão Tử được diễn tả theo phương thức "phân giải", cho nên cần phải biện bạch các yếu tố nội và ngoại, gốc và ngọn, thô với tế và biến với thường v.v... Vì vậy mà Lão Tử chưa thể đạt tới cảnh giới “Du tâm ngoại vạn hóa" (Thả hồn ra khỏi mọi sự vật). Trái lại Trang Tử phản đối mọi hình thức "tương đãi” (đối chọi), cho nên trong cảnh giới tinh thần của Người, chẳng cần phân biệt đâu là thô là tế, đâu là biến là thường, đâu là nội là ngoại, đâu là gốc là ngọn, mà chỉ có "Dự thiên hạ vi nhất". (Cùng với trời đất là một) và "Tinh thần tứ đại tịnh lưu, vô sở bất cực". (Xuất thần thơi thảnh bốn phương, chẳng nơi nào không thấu tới). Điểm thứ hai là, tuy rằng Lão Tử cùng Trang Tử, cả hai đều chủ trương "Phản phác quy chân (Sống chất phác giản dị, trở về với chân thật của thiên nhiên), nhưng với Lão Tử là thái độ phản ứng, bởi chán ghét những hiện tượng đấu tranh quyền lực, đời sống xa xỉ và tâm địa xảo trá của nhóm chính trị quyền thế. Riêng với Trang Tử thì vì lẽ khác, Người quý trọng giá trị chân chính của sinh mạng con người hơn tất cả. Cho nên Trang Tử cực lực chống lại chế độ và tập tục truyền thống, cho rằng những thứ đó, đều gây phương hại cho bản chất chân thật của mạng sống con người. Nói chung, tư tưởng của hai vị thánh tổ Đạo giáo, đều có ảnh hưởng sâu rộng đến nền triết học Trung Quốc, nhưng Lão Tử thuộc về lãnh vực chính trị nhiều hơn, còn Trang Tử thì thuộc về lãnh vực lẽ sống của con người.
Tư tưởng của Trang Tử chứa đựng rất nhiều yếu tố khích động về tình cảm, lệch sang thái độ nhạo đời bởi hai nguyên do: Một là, dưới con mắt của Trang Tử, nhà Nho học Khổng Mạnh mong sao ổn định được thế cuộc rối ren, bằng luân lý đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc v.v... Và nhóm theo Mặc Tử, thì bôn ba giữa các nước, kêu gọi hòa bình bằng thuyết "Kiêm ái phi công", đều là những chuyện làm phí công vô bổ, chẳng những không cứu vớt được ai, trái lại còn xúi cho "Khôn dại lừa nhau, trái phải đảo điên", càng làm cho thiên hạ rối thêm là đằng khác. Trang Tử ghét nhất là những kẻ khéo mồm ngụy biện, tự cho mình hiểu biết hơn ai. Cũng vì phủ định mọi giá trị biện luận về thị phi, nên Trang Tử có thái độ miệt thị trí thức, rồi chủ trương "Khí tri" (loại bỏ trí thức) y như Lão Tử vậy. Hai là, Trang Tử vốn người Tống (thuộc về miền đông tỉnh Hà Nam bây giờ), nằm vào vị trí, phía đông có Tề, Lỗ, bắc có Tấn, tây có Trịnh. Những nước này, nếu không là tôn thân (dòng họ bên nội), thì cũng là công thần hay ngoại thích (bà con bên ngoại) của nhà Chu. Riêng chỉ nước Tống vốn là dân Yên Thương tiên triều, bị nhà Chu chinh phục, lại độn vào giữa các nước thường hay chinh phạt, lấy đất Tống làm bãi chiến trường, khiến cho dân tình đói rét lầm than. Sống trong hoàn cảnh ác liệt đó, Trang Tử vừa cảm thấy thất vọng, vừa khao khát một lẽ sống tự do thư thới, tương xứng với giá trị con người hơn.
Huệ Thi là một người bạn chơi thân với Trang Tử. Nhưng bởi Huệ Thi vốn là một kẻ sĩ có tài hùng biện, nên cứ mỗi lần gặp mặt, là hai đàng tranh luận kịch liệt, và mỗi lần cãi nhau như vậy, chẳng ai chiu ai, bởi tư tưởng đôi bên khác nhau quá xa. Tuy nhiên, trước sau họ vẫn giữ được tình bạn tương kính và khăng khít, chứng tỏ Huệ Thi là một phần tử trí thức tài trí và đức độ. Sách "Trang Tử” có ghi nhiều mẩu truyện giao du, bàn cãi giữa đôi bạn này, cụ thể nhất là, truyện Trang Tử cùng Huệ Thi đưa nhau đi du ngoạn trên cầu mương. Bỗng nhiên Trang Tử chỉ xuống mương bảo: "Những con cá tự nhiên ra bơi lội thơi thảnh, như vậy cá sung sướng lắm thay". Huệ Thi hỏi: "Bạn chẳng là cá sao biết được cá nó sung sướng?" Trang Tử hỏi ngược lại: "Bạn chẳng là tôi, sao biết tôi không hiểu được cá đang sung sướng?" Huệ Thi đáp: "Tôi không là bạn, cố nhiên chẳng hiểu nổi bạn, nhưng bạn vốn không là cá, chắc chắn là chẳng hiểu được cá rồi". Cuối cùng Trang Tử bảo: "Thôi, chúng ta nên trở lại với câu đầu tiên lúc nãy đi. Bạn bảo rằng tôi không thể hiểu được cá đang sung sướng, vân vân và vân vân. Sự thật là bạn vốn biết rõ tôi thông cảm với tánh cá mà lại muốn nói như vậy chứ gì. Tôi đã hiểu được cá ngay khi đặt chân lên bờ mương này". Qua đoạn cãi lý đó, chúng ta thấy sự khác biệt quá xa về tư tưởng giữa hai người. Sở dĩ Trang Tử nhận thấy cá sung sướng, là dựa vào cảm giác chủ quan, với mối tình không ngăn cách, giữa tâm hồn cởi mở của con người cùng vạn vật theo trực giác, giàu tính chất văn nghệ. Còn đằng này thì, Huệ Thi xét vấn đề đó với thái độ trí thức, dĩ nhiên là quan niệm của hai đàng không thể gặp nhau được. Do đó, dù là một nhà biện luận trứ danh, Huệ Thi cũng chưa hiểu nổi cảnh giới tâm linh của Trang Tử. Triết lý chính yếu nhất của Trang Tử là DIỆT THỊ PHI, CHÔNG ĐỐI Lập: Lý tưởng của Trang Tử, cũng là mục tiêu cuối cùng trong triết lý của Trang Tử là, mở rộng một bầu trời mới mẻ cho đời sống con người, trở lại với tình cảm chân thật của sinh mạng. Để đạt tới lý tưởng này, trước tiên Trang Tử cố gắng dẹp bỏ hết nhũng gì mà Người cho là chướng ngại vật ngoại giới. Đó là "quan niệm thị phi" và "quan niệm đối lập" mà người đời hay kiên trì. Vậy tại sao người ta có quan niệm thi Phi? Trang Tử nhận định rằng, một là người ta có ăn thành kiến, dù là do cố chấp theo ý riêng hay do phán xét qua kiến thức và kinh nghiệm. Lời phán định của một nhà nào đó, ắt là cái nhìn bầu trời qua một lỗ nhỏ. Khi có một nhà dùng cái nhìn qua lỗ nhỏ đó mà phê phán trăm nhà khác, thì làm sao chẳng gây nên cuộc tranh chấp kẻ thị (phải) người phi (trái)? Dù người ta có dựa vào kiến thức đê chứng minh cho sự việc thì cũng thế thôi, bởi vì kiến thức nào cũng có giới hạn cả, hai là do tình cảm tạo nên, một khi tình cảm của con người được biểu lộ ra, đều có liên quan đến dục vọng của họ, nói toạc ra là, tình người luôn luôn bị dục vọng chi phối, đó là chướng ngại vật bên trong. Người ta ai cũng có lòng thương ghét, lại bị chi phối bởi dục vọng, cho nên mới sanh ra chuyện phải trái, như vậy thì vấn đề thị phi nào có tiêu chuẩn khách quan. Để tránh phải tranh chấp nhau về thị phi, Trang Tử chủ trương "vô tình". Khi đã vô tình, thì người ta không bị lòng thương ghét liên lụy đến bản thân. Ba là do cố chấp. Khi người ta đã cố chấp, thì tự cho mình là cái rốn của vũ trụ, là tiêu chuẩn của thị phi, thậm chí còn là hóa thân của chân lý: Do đó, ai theo ta là phải, ai nghịch ta là trái. Thiết tưởng ai cũng cố chấp như vậy, thì cuộc tranh chấp chẳng bao giờ ngưng, rồi đâu là phải, đâu là trái, vẫn là câu hỏi muôn thuở.
Đã thấy rô căn nguyên của thị phi rồi, Trang Tử còn giải thích thêm, những lý do không cần phải tranh luận về thị phi: Thứ nhất là, thị phi rất khó định mức, người nói theo lý lẽ của người, ta nói theo lý lẽ của ta, chẳng lẽ người ta đều sai hết, chỉ có mình là đúng thôi? Đối với Trang Tử, thật tình là chưa hề nghĩ tới vấn đề thị phi có tiêu chuẩn khách quan hay không, mà dù có đi chăng nữa, Trang Tử cũng bác bỏ như thường, bởi Người quan niệm thị phi là sự vật đối lập nhau, trái với bản chất của triết lý Trang Tử rằng là: "Tranh luận thị phi bao nhiêu, là làm tổn Đạo bấy nhiêu”. Bởi lẽ Đạo là nhất thể, không bài xích bất cứ một hiện tượng nào cả. Cho nên Trang Tử bảo rằng: "Tri thị phi chi bất khả vi phân, tế đại chi bất khả vi ni". (Ta thấy rõ điều thị phi rất khó phân định, như cái lớn với cái nhỏ vốn chẳng có manh mối nào). Thị phi là một hình thức trong hiện tượng đối lập mà Trang Tử chủ trương bài trừ. Hình thức đối lập rất nhiều, chẳng hạn như đẹp và xấu, thành và bại, khen và chê v.v... Nhưng theo cái nhìn của Trang Tử, thì vạn vật trời sanh chẳng có cái gọi là tốt hay xấu, thành hay bại, bới vạn vật do Đạo mà có (như Lão Tử đã viết trong Đạo Đức Kinh) chỉ là một, mọi sai biệt hay đối lập, đều được dung hòa quy hết về Đạo. Cho nên Trang Tử bảo rằng: "Dĩ Đạo quan chi, vật vô quý tiện". (Nhìn theo Đạo, thì vạn vật chẳng có phân biệt cái nào quý cái nào tiện), và rằng: "Vạn vật nhất tề, thục đoản thục trường". (Muôn vật ngang nhau, đâu có cái nào hơn, cái nào kém). Bởi lẽ, quý và tiện, hơn và kém đều là hình thức đối lập, mà Đạo thì siêu đối lập, cho nên nhìn theo Đạo là, vạn vật nhất tề, thấy quy về Đạo.
Những lý luận bác bỏ mọi hình thức đối lập trên đây của Trang Tử, không thể hiểu theo quan điểm của thế giới chứng nghiệm được, vì trong thế giới chứng nghiệm, giữa vạn vật bao giờ cũng khác nhau giữa cái đẹp với cái xấu, cái thành với cái bại, cái hay với cái dở, thậm chí "Thiên hạ chẳng bao giờ có hai giọt nước như nhau”. Như vậy là, triết lý của Trang Tử chẳng có liên quan gì tới trí thức và kinh nghiệm, mà là hướng về trọng tâm khai thác vấn đề nhân sinh, nhắm mục tiêu đi tìm giá trị chân chính của mạng sống con người, để trở thành đấng "Chân Nhân", không bị hiện tượng bên ngoài chi phối. Từ đó, người đời sau tôn xưng những nhân vật tu tiên thành chánh quả là "Chân Nhân", như "Thái ất chân nhân", "Vô cực chân nhân",... "Chân nhân" tức là con người thật, chẳng có chút giả tạo nào, như kẻ múa may trên đời.
3- Giá Trị Triết Lý Trang Tử
Sách "Trang Tử" có đoạn tả về tâm lý con người rừng: "Nhân tâm bài hạ nhi tiến thượng, thượng hạ tù sát... kỳ nhiệt tiêu hỏa, kỳ hàn nghĩ băng". Hai chữ "Nhân tâm" đây là nói về tâm trạng con người đang mê muội, bị đắm chìm bởi hiện tượng nhân quả, để cho ngoại cảnh chi phối lòng mình. "Bài hạ nhi tiến thượng" là tả về tâm trạng con người, phản ảnh mạnh mẽ, khi bị kích thích bởi hiện tượng ngoại giới, chẳng hạn như người ta phấn khởi, hớn hở khi thành công hay được tiếng tốt, đó là "tiến thượng"; ngược lại gặp lúc thất bại hay bị chê bai thì buồn bã, chán nản, đó là "bài hạ": Hiện tượng tâm trạng khi lên khi xuống như vậy đều do ngoại cảnh dẫn tới, nói cách khác, là người ta luôn luôn bị ngoại vật rằng buộc, thậm chí còn sát hại nữa là khác, cho nên bảo là "thượng hạ tù sát". Nghĩa là khi lòng người bị kìm kẹp trong khung cảnh phản ứng bởi những kích thích bên ngoài, thì không thể hoàn toàn tự chủ được, đắc chí thì vui tươi phấn khởi, "kỳ nhiệt tiêu hỏa" (nóng hổi như lửa đỏ) thất ý thì buồn nản vô cùng, "kỳ hàn nghĩ băng" (lạnh ngất tựa nước đá). Trang Tử nhận thấy tâm trạng con người lúc thăng lúc trầm, khi nóng khi lạnh một cách vô định như vậy, thật là điều đáng thương hại. Cho nên người cố gắng tìm một lối thoát cho người đời, bàng cách cứu vớt nhân tâm ra khỏi hiểm cảnh "thượng hạ tù sát", quy về với cảnh giới "Chân nhân" hư tĩnh, thanh đạm, tịch mạc, vô vi. Qua sự phân tách trên đây cho ta thấy rõ hơn, giá trị triết lý Trang Tử Ơ vào chữ "Tâm". Tâm đây, hiểu theo nghĩa của Trang Tử là nội tâm con người, là chủ thể của sinh mạng. Với nhà Nho, Tâm là nguồn gốc đạo đức, giá trị xã hội; với Trang Tử, Tâm là trạng thái hoạt động tâm lý rất phức tạp của con người, tức là hiện tượng Nhân quả do tình cảm, tư duy và cả ảo tưởng tạo nên. Nếu tâm hồn của người nào đó bị đắm chìm trong bể khổ nhân quả, thì Trang Tử coi như "Cận tử chi tâm" (Thứ tâm đã gần chết đi rồi), bởi vì nó khiến cho người ta, lúc nào cũng phập phồng lo âu, ngày đêm tư lự. Rút cuộc là lao tâm tổn thần, làm mỏi mòn sinh mạng của con người. Kịp lúc ngoảnh đầu nhìn lại, thì thấy tất cả đều trống không, chẳng hiểu mình đã đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Cho nên Trang Tử cố gắng tìm cách giải thoát tâm hôn con người ra khỏi cương tỏa Nhân quả đó, ai nấy trở lại với bản ngã, chân ngã một cách tự do tự chủ, tội gì mà cứ phải đóng kịch đời, thành ra con người hai mặt, thậm chí muôn mặt, từ hạng chính khách cho đến kẻ phàm phu tục tử.
Giá trị triết lý Trang Tử ở vào ý nghĩa tồn tại của con người. Vậy con người ta tồn tại có ý nghĩa gì? Như đã trình bầy ở phần trước, mục tiêu cuối cùng của Trang Tử là mở ra một khung cảnh mới mẻ cho nhân sinh, vậy khung cảnh đó như thế nào? Hiểu được nội dung khung cảnh đó, là hiểu được ý nghĩa tồn tại của con người theo triết lý Trang Tử. Sách "Trang Tử có mô tả nhiều khía cạnh trong tân cảnh giới nhân sinh đó như sau (dịch nôm):
- Sống như bậc Thần... mà ngao du ngoài bốn biển.
- Là bậc Thánh, chẳng phải lo việc phàm tục... ngao du ngoài cõi trần ai.
- Tinh thần thông đạt bốn phương, chẳng nơi nào không tới được.
- Trời đất sống chung với ta, vạn vật cùng ta là một.
- Tinh thần giao cảm vãng lai với trời đất, nhưng không coi thường vạn vật.
- Cá quên mọi thứ nhờ có sông ngòi, người quên mọi việc nhờ có đạo thuật (thuật tu tiên)
Giá trị triết lý Trang Tử ở vào ý nghĩa tồn tại của con người. Vậy con người ta tồn tại có ý nghĩa gì? Như đã trình bầy ở phần trước, mục tiêu cuối cùng của Trang Tử là mở ra một khung cảnh mới mẻ cho nhân sinh, vậy khung cảnh đó như thế nào? Hiểu được nội dung khung cảnh đó, là hiểu được ý nghĩa tồn tại của con người theo triết lý Trang Tử. Sách "Trang Tử có mô tả nhiều khía cạnh trong tân cảnh giới nhân sinh đó như sau (dịch nôm):
- Sống như bậc Thần... mà ngao du ngoài bốn biển.
- Là bậc Thánh, chẳng phải lo việc phàm tục... ngao du ngoài cõi trần ai.
- Tinh thần thông đạt bốn phương, chẳng nơi nào không tới được.
- Trời đất sống chung với ta, vạn vật cùng ta là một.
- Tinh thần giao cảm vãng lai với trời đất, nhưng không coi thường vạn vật.
- Cá quên mọi thứ nhờ có sông ngòi, người quên mọi việc nhờ có đạo thuật (thuật tu tiên)
Tags:
HỌC TẬP - NGHIÊN CỨU
MẠNH TỬ
372 – 289 trước Công Nguyên
1. Sơ Yếu Cuộc Đời
Mạnh Tử họ Mạnh tên Kha, tự Tử Dư, sanh vào năm thứ tư Chu liệt Vương, 372 tr. CN. Sau 107 năm, tính từ khi Khổng Tử qua đời. Người ta được biết về thân thế của Mạnh Tử, có phần ít hơn Khổng Tử, nhất là chẳng ai được rõ đời sống thời thơ ấu của Người ra sao. Tục truyền về truyện "Mạnh mẫu (mẹ thân sanh Mạnh Tử) tam thiên". (Để chọn láng giềng tốt cho Mạnh Tử, bà mẹ đã phải dời chỗ ở những ba lần), theo kết quả khảo cứu, thì chẳng có sự thật đó.
Mạnh Tử vốn là hậu duệ của Mạnh Tôn, thuộc dòng dõi Lỗ công, vì đã di cư sang xứ Châu (nước nhỏ phụ thuộc vào Lỗ), nên coi như là người Châu. Mạnh Tử theo học thầy Tử Tư từ thuở trẻ (Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử), bình sinh lấy việc tuyên dương đạo Khổng làm chí hướng, cho nên đến thời trung niên, cũng như Khổng Tử đời trước, chu du qua nhiều nước như Tống, Tuyết, Tề, Nguỵ, Lỗ, Châu, Lương v.v... Căn cứ theo sách "Mạnh Tử", thì những nhân vật chính trị đương quyền mà Mạnh Tử đã được tiếp xúc là Lương Huệ Vương, Lương Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Châu Mục Công và Đằng Văn Công.
Trong lịch trình chu du liệt quốc, Mạnh Tử đến nước Lương vào năm 320 tr. CN bởi lúc đó, Lương Huệ Vương đang chiêu sính hiền sĩ bốn phương. Khi Mạnh Tử bệ kiến Lương Huệ Vương, câu đầu tiên vua Lương nêu ra ngay, là vấn đề có tính cách tiêu biểu cho các quốc gia đương thời: "Hà dĩ lợi ngô quốc?" (Làm sao để có lợi cho nước ta?). Đứng vào lập trường của nhà cầm quyền, Lương Huệ Vương coi trọng vấn đề công lợi vì nước, chẳng có gì là sái cả, nhưng với một hiền sĩ coi nhân nghĩa là lý tưởng cao cả nhất như Mạnh Tử, thì đó là điều hại, cho nên đã xây ra cuộc tranh luận dữ dội về Nghĩa và Lợi, giữa Lương huệ Vương cùng Mạnh Tử. Khi đã kiên trì giá trị Nhân Nghĩa cao hơn công lợi, thì lời của Mạnh Tử không thể nghe lọt vào tai vua Lương được, Người đành tạm thời lưu lại nước Lương, để chờ cơ duyên khác. Sang năm sau Huệ Vương mất, con là Tương Vương lên kế vị, Mạnh Tử lại được triệu kiến vấn chính, nhưng đã bỏ Lương sang Tề, bởi hoàn toàn thất vọng với Lương tương Vương, "Trông thì chẳng giống một vị chúa, gần thì chẳng thấy có uy nghi tí nào” như lời Mạnh Tử đã đánh giá.
Kịp đến nước Tề, vào yết kiến Tề Tuyên Vương, vua Tề ngỏ ý muốn bàn về sự tích bá nghiệp của Tề Hoàn Công và Tấn Văn Công thuở trước (Hai vì vua này, từng xưng bá vào thời Xuân Thu), biểu lộ điều mà vua Tề mong muốn, hẳn là "Phú quốc cường binh". Song, Mạnh Tử vốn chẳng tán thành lối phú cường của hai vị bá chủ đó, bèn nói lảng sang đề tài khác bằng lời lẽ biện minh khôn khéo, mong thuyết phục được Tề tuyên Vương chấp nhận chủ trương "Vương đạo" của mình. Thuyết Vương đạo mà Mạnh Tử chủ trương, là một lý tưởng chẳng cao xa lắm, mục tiêu chính trị Vương đạo, chẳng qua là yêu cầu "Người già cả được ăn ngon mặc đẹp, lê dân chẳng ai bị đói rét". Lý tưởng đó tuy khá khiêm tốn, nhưng vào thời Chiến Quốc, khói lửa không ngừng, thì dễ ai có thể đạt được? Tề Tuyên Vương tuy không hoàn toàn đồng ý với lý luận của Mạnh Tử, nhưng hết sức thán phục tài hùng biện của Người, nên đã mời ở lại làm Quốc khanh (Tương đương với địa vị cố vấn cao cấp thời nay) . Lúc Tề Tuyên Vương vạch kế hoạch toan tính đánh lấy nước Yên, có thỉnh ý Mạnh Tử, Người trả lời rằng: "Thủ chi nhi Yên dân duyệt, tắc thủ chi; thủ chi nhi Yên dân bất duyệt, tắc vật thử . (Lấy mà dân Yên vui lòng, thì nên lấy; nếu lấy mà dân Yên chẳng vui lòng, thì chớ lấy). Nhưng Tề tuyên Vương đã bất chấp dân Yên có vui lòng hay chăng, cứ dùng võ lực cưỡng chiếm nước Yên vào năm 314 tr. CN Đến chừng dân Yên đùng đùng nổi dậy chống Tê, thì Tuyên vương mới hối tiếc đã không nghe theo lời khuyến cáo của Mạnh Tử. Giai đoạn đầu, Mạnh Tử lưu trú ở Tề chẳng được bao lâu, thì về Lỗ chịu tang mẹ. Ba năm sau, khi mãn tang trở lại Tề, tiếp tục ở đến năm 315 tr. CN người Yên dấy loạn, mới bỏ Tề sang Đằng (Có truyền thuyết khác là, lúc đó Mạnh Tử đi làm quan Đại phu ở nước Nguỵ). Tại Đằng, mặc dù Mạnh Tử có dịp phát biểu nhiều luận thuyết quan trọng, nhưng ngặt vì Đằng là một nước nhược tiểu, chu vi chỉ được có năm mươi dặm, lại nằm vào giữa hai đại cường là Tề và Sở, cho nên, thật tế chẳng có tác dụng gì cho lắm. Chẳng bao lâu thì Mạnh Tử nhận lời mời của Lỗ Bình Công, trở về cố quốc, song, bởi có kẻ nói xấu, thọc gậy bánh xe, rút cuộc chẳng được gặp mặt Bình Công.
Kể từ năm 52 tuổi, Mạnh Tử bắt đầu du hành sang nước Lương, cho đến cuối cùng quay về nước Lỗ, đã trải hơn hai mươi năm mà chẳng lìm được vị minh chúa nào có đồng chí hướng, để thực hiện lý tưởng Vương đạo. Chừng tuổi đã già thì trở về xứ Châu, nơi chôn nhau cắt rốn, tu thân và dạy học, y như Khổng Tử thuở trước vậy. Đến năm 84 tuổi thì Mạnh Tử mất, thọ hơn Khổng Tử mười một tuổi đời.
2- Luận Thuyết Của Mạnh Tử
Trong sách "Mạnh Tử", có đến hai mươi chín chỗ trích dẫn lời của Khổng Tử, chứng tỏ Mạnh Tử sùng bái Khổng Tử gần như tuyệt đối, coi Khổng Tử là Thánh tổ, tự đặt mình vào cương vị của kẻ có sứ mạng truyền bá Khổng học. Sự thật là ở thời Mạnh Tử, phạm vi ảnh hưởng của đạo Nho vẫn còn hạn hẹp, so với Đạo gia và Mặc gia, thậm chí với Pháp gia, hãy còn đứng vào vị thế yếu kém, nhờ vào tài hùng biện và tư tưởng bén nhạy của Mạnh Tử mới đem lại cho Nho học đương thời, có được một chỗ đứng tương xứng.
Quan niệm "Đạo thống" (Đạo lý của nền văn hóa truyền thống) của nhà Nho, bắt nguồn từ lập luận "lý tưởng hóa cổ Đế của Khổng Tử. Lập luận đó có nghĩa là, Khổng Tử đưa các vị cổ Đế Nghiêu, Thuần, và Hạ Ngu vào khuôn mẫu tiêu biểu cho nhà Nho, coi chính cổ Đế là người lãnh đạo thực tiễn đạo Nho, cho nên mới tạo được cục diện thái bình thịnh trị, rất có lợi cho việc tuyên dương, truyền bá Nho học. Quan niệm "Đạo thống" trên đây, khi truyền tới tay Mạnh Tử, thì trở thành khuôn mẫu cố định của nhà Nho. Hơn nữa, khi luận về đức tính cao cả của bậc thánh chúa, vĩ nhân an bang tế thế, ngoài ba vị cổ Đế Nghiêu, Thuấn, Ngu ra, Mạnh Tử còn kê thêm vua Thang, (Chu) Văn Vương, (Chu) Võ Vương cùng với Chu Công, Khổng Tử nữa. Cũng bởi Mạnh Tử đã đem "Đạo thống" của nhà Nho, đóng khung thành "Thường Đạo" một cách máy móc, cho nên Người đã mạnh tay bác bẻ các học thuyết khác, bất chấp giá trị của họ ra sao, đều coi như dị thuyết, thậm chí là tà thuyết. Lời phê phán như vậy tuy có thiếu công bằng, nhưng cũng chứng tỏ Mạnh Tử hết sức trung thành với đạo Nho.
Điểm rất quan trọng trong luận thuyết của Mạnh Tử là, nhận định con người "Tánh bản thiện". Người bảo rằng? "Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ác chi tâm, nhân giai hữu chi; cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi; thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi". (Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng thẹn ác, ai cũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi), rồi giải thích thêm rằng: "Trắc ẩn chi tâm, nhân giã; tu ác chi tâm, nghĩa giã; cung kính chi tâm, lễ giã; thị phi chi tâm, trí giã. Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã giã, ngã cố hữu chi giã". (Lòng trắc ẩn đó là nhân, lòng thẹn ác đó là nghĩa, lòng cung kính đó là lễ, lòng thị phi đó là trí. Nhân, nghĩa, lễ, trí, không do bên ngoài hun đúc ta, mà là vốn đã có sẵn trong lòng ta. Sau Mạnh Tử, các nhà Nho thêm chữ "Tín" của Khổng Tử vào, gộp thành "Nhân, Nghĩa, Lê, Trí, Tín", năm đức tính căn bản của đạo Nho.
Khổng Tử nhấn mạnh chữ NHÂN, Mạnh Tử coi trọng chữ NGHĨA. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đời khinh nghèo chê hèn, Mạnh Tử cực lực chống lại bằng cách đề cao đức tính "Cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo". (Dù có nghèo cũng không mất nghĩa, khi đã khá cũng giữ đúng đạo). Mạnh Tử đã nghèo suốt đời, cũng vì "Bất thất nghĩa, bất ly đạo", nhưng Mạnh Tử cũng nhờ kiên trì tâm niệm "Bất thất nghĩa, bất ly đạo" đó, mới trở thành nhân vật bất hủ. Qua những trang lịch sử, chúng ta thấy có kẻ tranh nhất thời, có kẻ giành thiên thu, khác nhau chỉ một chữ NGHĨA mà thôi.
Tư tưởng của Mạnh Tử có phần tân tiến, giầu tinh thần dân chủ hơn Khổng Tử, như khi luận về cách cư xử giữa quân thần (chúa tôi), Khổng Tử thường đặt nặng về phần bề tôi phải như thế nào, chẳng hạn: "sự quân tận lễ" (Thờ chúa phải tận trung theo lễ) và "Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ" (Lấy đạo mà thờ chúa, nếu chẳng đạt thì thôi). Ngược lại, Mạnh Tử thiên trọng về phần quân vương nên làm sao, như câu: "Hiền quân tất cung kiệm lễ hạ". (Chúa hiền chắc chắn là người biết kính cẩn, tiết kiệm và trọng kẻ dưới). Hơn ni74a còn có ý thức dân chủ sơ bộ như câu: "Dân vi quý, quân vi khinh". Cho nên Người đã khuyến cáo bậc sĩ phu, khi "Lễ mạo suy, tắc khử chi". (Khi chúa đối với ta thiếu lễ độ, thì nên bỏ đi ngay). Như vậy là, Mạnh Tử còn "Quân tử" hơn Khổng Tử nữa. Trong thời gian Mạnh Tử Ở nước Đằng, Đằng Văn Công có hỏi: "Phải làm thế nào mới trị nước được tốt?" Thưa rằng: "Việc dân chính chớ nên trì hoãn... Đạo vì dân là, hễ (dân) có hằng sản là có hằng tâm, vô hằng sản thì vô hằng tâm. Một khi (con dân) đã không có hằng tâm, thì đâm ra phóng đãng, tà xỉ, chuyện gì mà chẳng dám làm. Chừng dân can vào tội, rồi bị hình phạt, thì còn đâu là dân lành". Tư tưởng này của Mạnh Tử rất ăn khớp với câu "Tiên phú hậu giáo" của Khổng Tử, đều chủ trương dành quyền tư hữu tài sản cho dân. Đó là vấn đề căn bản nhất trong xã hội loài người, xưa cũng như nay, mà đòi hỏi tối thiểu là "Dân dĩ thực vi thiên". (Chữ THIÊN đây là Trời, có nghĩa là cao hơn hết, quan trọng nhất. Nhưng có nhiều người hay hiểu lầm câu này ra thành "Dân dĩ thực vi tiên" TIÊN đây nghĩa là trước tiên). Khi vua Đằng hỏi ý kiến về chế độ Tĩnh điền" (Chia ruộng ra làm chín thửa như hìnhchữ "Tĩnh", cho tám hộ làm, khu chính giữa là công điền, do tám hộ hợp sức canh tác, phần thu hoạch đó thuộc về của công) của nhà Chu, thì Mạnh Tử đáp: "Chính trị nhân đức, được bát đầu từ chỗ có ranh giới... Khi ranh giới đã rõ, rồi chia lộc hưởng theo phần, là xã hội ổn định". Xem đó, mặc dầu Mạnh Tử cực lực đề xướng "Vương đạo , hy vọng có một tân chính quyền đứng lên thống nhất thiên hạ, đang lâm vào tình trạng rối ren, nhưng cũng muốn tân chính quyền đó, vẫn giữ lại phần nào chế độ cũ. Điểm này cho thấy, Mạnh Tử không bác bỏ toàn bộ lý tưởng phục hưng văn hóa nhà Chu của Khổng Tử. Nhưng chẳng may, đời sau nhóm Tống Nho ngộ nhận là, đạo Nho nhất thiết phải bảo thủ nền văn hóa truyền thống, biến họ thành những nhà trí thức "không tưởng", trước vấn đề chính trị thực tế, nên bị mang tiếng là "Hủ Nho".
Quan niệm "Đạo thống" (Đạo lý của nền văn hóa truyền thống) của nhà Nho, bắt nguồn từ lập luận "lý tưởng hóa cổ Đế của Khổng Tử. Lập luận đó có nghĩa là, Khổng Tử đưa các vị cổ Đế Nghiêu, Thuần, và Hạ Ngu vào khuôn mẫu tiêu biểu cho nhà Nho, coi chính cổ Đế là người lãnh đạo thực tiễn đạo Nho, cho nên mới tạo được cục diện thái bình thịnh trị, rất có lợi cho việc tuyên dương, truyền bá Nho học. Quan niệm "Đạo thống" trên đây, khi truyền tới tay Mạnh Tử, thì trở thành khuôn mẫu cố định của nhà Nho. Hơn nữa, khi luận về đức tính cao cả của bậc thánh chúa, vĩ nhân an bang tế thế, ngoài ba vị cổ Đế Nghiêu, Thuấn, Ngu ra, Mạnh Tử còn kê thêm vua Thang, (Chu) Văn Vương, (Chu) Võ Vương cùng với Chu Công, Khổng Tử nữa. Cũng bởi Mạnh Tử đã đem "Đạo thống" của nhà Nho, đóng khung thành "Thường Đạo" một cách máy móc, cho nên Người đã mạnh tay bác bẻ các học thuyết khác, bất chấp giá trị của họ ra sao, đều coi như dị thuyết, thậm chí là tà thuyết. Lời phê phán như vậy tuy có thiếu công bằng, nhưng cũng chứng tỏ Mạnh Tử hết sức trung thành với đạo Nho.
Điểm rất quan trọng trong luận thuyết của Mạnh Tử là, nhận định con người "Tánh bản thiện". Người bảo rằng? "Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ác chi tâm, nhân giai hữu chi; cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi; thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi". (Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng thẹn ác, ai cũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi), rồi giải thích thêm rằng: "Trắc ẩn chi tâm, nhân giã; tu ác chi tâm, nghĩa giã; cung kính chi tâm, lễ giã; thị phi chi tâm, trí giã. Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã giã, ngã cố hữu chi giã". (Lòng trắc ẩn đó là nhân, lòng thẹn ác đó là nghĩa, lòng cung kính đó là lễ, lòng thị phi đó là trí. Nhân, nghĩa, lễ, trí, không do bên ngoài hun đúc ta, mà là vốn đã có sẵn trong lòng ta. Sau Mạnh Tử, các nhà Nho thêm chữ "Tín" của Khổng Tử vào, gộp thành "Nhân, Nghĩa, Lê, Trí, Tín", năm đức tính căn bản của đạo Nho.
Khổng Tử nhấn mạnh chữ NHÂN, Mạnh Tử coi trọng chữ NGHĨA. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đời khinh nghèo chê hèn, Mạnh Tử cực lực chống lại bằng cách đề cao đức tính "Cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo". (Dù có nghèo cũng không mất nghĩa, khi đã khá cũng giữ đúng đạo). Mạnh Tử đã nghèo suốt đời, cũng vì "Bất thất nghĩa, bất ly đạo", nhưng Mạnh Tử cũng nhờ kiên trì tâm niệm "Bất thất nghĩa, bất ly đạo" đó, mới trở thành nhân vật bất hủ. Qua những trang lịch sử, chúng ta thấy có kẻ tranh nhất thời, có kẻ giành thiên thu, khác nhau chỉ một chữ NGHĨA mà thôi.
Tư tưởng của Mạnh Tử có phần tân tiến, giầu tinh thần dân chủ hơn Khổng Tử, như khi luận về cách cư xử giữa quân thần (chúa tôi), Khổng Tử thường đặt nặng về phần bề tôi phải như thế nào, chẳng hạn: "sự quân tận lễ" (Thờ chúa phải tận trung theo lễ) và "Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ" (Lấy đạo mà thờ chúa, nếu chẳng đạt thì thôi). Ngược lại, Mạnh Tử thiên trọng về phần quân vương nên làm sao, như câu: "Hiền quân tất cung kiệm lễ hạ". (Chúa hiền chắc chắn là người biết kính cẩn, tiết kiệm và trọng kẻ dưới). Hơn ni74a còn có ý thức dân chủ sơ bộ như câu: "Dân vi quý, quân vi khinh". Cho nên Người đã khuyến cáo bậc sĩ phu, khi "Lễ mạo suy, tắc khử chi". (Khi chúa đối với ta thiếu lễ độ, thì nên bỏ đi ngay). Như vậy là, Mạnh Tử còn "Quân tử" hơn Khổng Tử nữa. Trong thời gian Mạnh Tử Ở nước Đằng, Đằng Văn Công có hỏi: "Phải làm thế nào mới trị nước được tốt?" Thưa rằng: "Việc dân chính chớ nên trì hoãn... Đạo vì dân là, hễ (dân) có hằng sản là có hằng tâm, vô hằng sản thì vô hằng tâm. Một khi (con dân) đã không có hằng tâm, thì đâm ra phóng đãng, tà xỉ, chuyện gì mà chẳng dám làm. Chừng dân can vào tội, rồi bị hình phạt, thì còn đâu là dân lành". Tư tưởng này của Mạnh Tử rất ăn khớp với câu "Tiên phú hậu giáo" của Khổng Tử, đều chủ trương dành quyền tư hữu tài sản cho dân. Đó là vấn đề căn bản nhất trong xã hội loài người, xưa cũng như nay, mà đòi hỏi tối thiểu là "Dân dĩ thực vi thiên". (Chữ THIÊN đây là Trời, có nghĩa là cao hơn hết, quan trọng nhất. Nhưng có nhiều người hay hiểu lầm câu này ra thành "Dân dĩ thực vi tiên" TIÊN đây nghĩa là trước tiên). Khi vua Đằng hỏi ý kiến về chế độ Tĩnh điền" (Chia ruộng ra làm chín thửa như hìnhchữ "Tĩnh", cho tám hộ làm, khu chính giữa là công điền, do tám hộ hợp sức canh tác, phần thu hoạch đó thuộc về của công) của nhà Chu, thì Mạnh Tử đáp: "Chính trị nhân đức, được bát đầu từ chỗ có ranh giới... Khi ranh giới đã rõ, rồi chia lộc hưởng theo phần, là xã hội ổn định". Xem đó, mặc dầu Mạnh Tử cực lực đề xướng "Vương đạo , hy vọng có một tân chính quyền đứng lên thống nhất thiên hạ, đang lâm vào tình trạng rối ren, nhưng cũng muốn tân chính quyền đó, vẫn giữ lại phần nào chế độ cũ. Điểm này cho thấy, Mạnh Tử không bác bỏ toàn bộ lý tưởng phục hưng văn hóa nhà Chu của Khổng Tử. Nhưng chẳng may, đời sau nhóm Tống Nho ngộ nhận là, đạo Nho nhất thiết phải bảo thủ nền văn hóa truyền thống, biến họ thành những nhà trí thức "không tưởng", trước vấn đề chính trị thực tế, nên bị mang tiếng là "Hủ Nho".
3- Công Tích Của Mạnh Tử Đối Với Nho Học
Triết lý Nho học được khởi xướng từ Khổng Tử, nhưng người hoàn chỉnh bước đầu, hệ thống hóa tư tưởng Nho học đó là Mạnh Tử. Trong buổi đang có nhiều học phái cạnh tranh, mà Nho học giành được chỗ đứng vững vàng, tiếp tục bành trướng sức ảnh hưởng trong xã hội. Trung Quốc thời phong kiến, cũng là nhờ Mạnh Tử có nhiều sáng kiến bổ khuyết, đi du thuyết nhiều nước và chăm dạy học trò, chẳng kém gì Khổng Tử trước đó cả trăm năm.
Tuy là kẻ thừa kế đạo Nho của Khổng Tử, nhưng Mạnh Tử biết linh động, thích ứng với thời thế, đưa ra đúng lúc quan mềm mới, làm tăng giá trị thực dụng cho Nho học. Điểm khác biệt lớn nhất về thế cuộc là, thời Xuân Thu, vương quyền nhà Chu tuy có suy vi thật, nhưng chư hầu vẫn còn tiêu biểu chung một lý tưởng là, "Tôn vương nhương di". (Tôn thờ vương thất nhà Chu, chống ngoại tộc xâm nhập). Một mặt, bề ngoài vẫn coi nhà Chu là chúa chung, mặt khác, giữa các nước Chư hầu, cố gắng giữ thế quân bằng, mong được sống chung hòa bình với trật tự hiện hữu. Cục diện chính trị quốc tế đó, là nguyên nhân chính, khiến Khổng Tử chủ trương duy trì chế độ cũng như văn hóa nhà Chu, mà Chu công là người có công sáng lập nhiều nhất. Sang đến thời Chiến Quốc, thì tình thế đã thay đổi hẳn. Lúc đó, về mặt chính trị, hệ thống cai trị của tập đoàn quý tộc đã tan rã, chế độ phong kiến bắt đầu băng hoại, dù là bá chủ cũng chẳng làm gì được cho thiên hạ nhờ; về mặt xã hội, thì đức Lễ, Tín chẳng còn, trật tự tôn pháp và thuần phong mỹ tục không ai tôn trọng nữa; về mặt tư tưởng học thuật, cũng chẳng đơn thuần như thời Khổng Tử, bởi phong khí du thuyết rất thịnh, từng tập đoàn sĩ phu đã bắt đầu hình thành giai cấp mới, trong khi các học phái tranh đua nhau quyết liệt hơn.
Thời Khổng Tử, tuy đã có Đạo học của Lão Tử, nhưng hai học phái ít có xung đột nhau, Khổng Tử còn hạ mình vấn lễ cùng Lão Tử nữa. Nhưng vào thời Mạnh Tử, thì đã có nhiều học thuyết khác nhau ra đời, chủ trương trái ngược với đạo Nho, buộc Mạnh Tử phải lớn tiếng bài bác họ, phê phán họ, nhất là đối với Dương Chu và Mặc Địch, Mạnh Tử cho rằng, "Dương Mặc chi đạo bất tức, Khổng Tử chi đạo bất trứ". (Nếu đạo của phái họ Dương, họ Mặc không dẹp đi, thì đạo của Đức Khổng chưa thể sáng tỏ được)
Như đã nói trên, ngoài đức NHÂN ra, Mạnh Tử rất chú trọng về đức NGHĨA. Người đã bảo: "Sinh diệc ngã sở dục giã, nghĩa diệc ngã sở dục giã, nhị giả bất khả đắc kiêm, xá sinh nhi thủ nghĩa giả giã". (Sống ta vốn muốn mà nghĩa ta cũng cần. khi không thể trọn lẽ đôi bề, thì xá sinh mà giữ lấy nghĩa vậy). Cái khó nhất của người đời, là thường gặp trường hợp bắt buộc phải chọn lựa. Điều Mạnh Tử nêu ra, là điều chọn lựa sinh tử, hệ trọng nhất trong đời người: nên giữ mạng hay giữ nghĩa? Trên lịch sử, biết bao nhân vật vĩ đại phải trải qua thử thách lớn lao, nhiên hậu mới trở thành vĩ nhân. Cho nên Mạnh Tử hô hào phần tử trí thức, khi trực diện với vấn đề sinh tử, thì phải đủ can đảm giữ lấy tiết nghĩa hơn là mạng sống, nếu thiếu tinh thần đó, thì chẳng bao giờ dám hy sinh cho lý tưởng cao cả.
Tóm lại, công tích của Mạnh Tử trong công trình xây dựng hệ thống Nho học, cực kỳ lớn lao, cho nên địa vị của Mạnh Tử trong Nho học, chỉ có dưới một người là Khổng Tử thôi. Do đó, người ta thường gọi chung Nho học là đạo Khổng - Mạnh.
Tuy là kẻ thừa kế đạo Nho của Khổng Tử, nhưng Mạnh Tử biết linh động, thích ứng với thời thế, đưa ra đúng lúc quan mềm mới, làm tăng giá trị thực dụng cho Nho học. Điểm khác biệt lớn nhất về thế cuộc là, thời Xuân Thu, vương quyền nhà Chu tuy có suy vi thật, nhưng chư hầu vẫn còn tiêu biểu chung một lý tưởng là, "Tôn vương nhương di". (Tôn thờ vương thất nhà Chu, chống ngoại tộc xâm nhập). Một mặt, bề ngoài vẫn coi nhà Chu là chúa chung, mặt khác, giữa các nước Chư hầu, cố gắng giữ thế quân bằng, mong được sống chung hòa bình với trật tự hiện hữu. Cục diện chính trị quốc tế đó, là nguyên nhân chính, khiến Khổng Tử chủ trương duy trì chế độ cũng như văn hóa nhà Chu, mà Chu công là người có công sáng lập nhiều nhất. Sang đến thời Chiến Quốc, thì tình thế đã thay đổi hẳn. Lúc đó, về mặt chính trị, hệ thống cai trị của tập đoàn quý tộc đã tan rã, chế độ phong kiến bắt đầu băng hoại, dù là bá chủ cũng chẳng làm gì được cho thiên hạ nhờ; về mặt xã hội, thì đức Lễ, Tín chẳng còn, trật tự tôn pháp và thuần phong mỹ tục không ai tôn trọng nữa; về mặt tư tưởng học thuật, cũng chẳng đơn thuần như thời Khổng Tử, bởi phong khí du thuyết rất thịnh, từng tập đoàn sĩ phu đã bắt đầu hình thành giai cấp mới, trong khi các học phái tranh đua nhau quyết liệt hơn.
Thời Khổng Tử, tuy đã có Đạo học của Lão Tử, nhưng hai học phái ít có xung đột nhau, Khổng Tử còn hạ mình vấn lễ cùng Lão Tử nữa. Nhưng vào thời Mạnh Tử, thì đã có nhiều học thuyết khác nhau ra đời, chủ trương trái ngược với đạo Nho, buộc Mạnh Tử phải lớn tiếng bài bác họ, phê phán họ, nhất là đối với Dương Chu và Mặc Địch, Mạnh Tử cho rằng, "Dương Mặc chi đạo bất tức, Khổng Tử chi đạo bất trứ". (Nếu đạo của phái họ Dương, họ Mặc không dẹp đi, thì đạo của Đức Khổng chưa thể sáng tỏ được)
Như đã nói trên, ngoài đức NHÂN ra, Mạnh Tử rất chú trọng về đức NGHĨA. Người đã bảo: "Sinh diệc ngã sở dục giã, nghĩa diệc ngã sở dục giã, nhị giả bất khả đắc kiêm, xá sinh nhi thủ nghĩa giả giã". (Sống ta vốn muốn mà nghĩa ta cũng cần. khi không thể trọn lẽ đôi bề, thì xá sinh mà giữ lấy nghĩa vậy). Cái khó nhất của người đời, là thường gặp trường hợp bắt buộc phải chọn lựa. Điều Mạnh Tử nêu ra, là điều chọn lựa sinh tử, hệ trọng nhất trong đời người: nên giữ mạng hay giữ nghĩa? Trên lịch sử, biết bao nhân vật vĩ đại phải trải qua thử thách lớn lao, nhiên hậu mới trở thành vĩ nhân. Cho nên Mạnh Tử hô hào phần tử trí thức, khi trực diện với vấn đề sinh tử, thì phải đủ can đảm giữ lấy tiết nghĩa hơn là mạng sống, nếu thiếu tinh thần đó, thì chẳng bao giờ dám hy sinh cho lý tưởng cao cả.
Tóm lại, công tích của Mạnh Tử trong công trình xây dựng hệ thống Nho học, cực kỳ lớn lao, cho nên địa vị của Mạnh Tử trong Nho học, chỉ có dưới một người là Khổng Tử thôi. Do đó, người ta thường gọi chung Nho học là đạo Khổng - Mạnh.
Tags:
HỌC TẬP - NGHIÊN CỨU
ĐƯỜNG CÁCH MỆNH VỚI VIỆC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN VÀO VIỆT NAM
Kỷ niệm 80 năm tác phẩm Đường cách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông xuất bản (1927 - 2007), bài viết này góp phần làm sáng tỏ những hình thức và nội dung mà Nguyễn Ái Quốc lựa chọn để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam; đồng thời thấy rõ ý nghĩa của vấn đề này đối với việc giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay.
- Về mục đích và phương pháp
Đọc Đường cách mệnh, dễ dàng thấy rõ mục đích của tác giả qua mục: Vì sao phải viết sách này?. Về hình thức trình bày của sách, điểm 6 của mục này viết: "Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả"[1]. Tác giả đã lý giải vì sao mà văn chương có thể bị chê là cụt quằn và vì sao mà phải viết cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, giản tiện, mau mắn và chắc như 2 nhân với 2 là 4. Đó là vì: "Hơn sáu mươi năm nay, đế quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu; hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt!...
Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!"[2].
Trong Đường cách mệnh, tác giả không chỉ chú ý tới cộng đồng dân tộc với đa số cư dân mù chữ là đối tượng được tuyên truyền, mà còn với cả những người đi tuyên truyền cuốn sách cũng không phải gồm những người có trình độ học vấn cao trong xã hội bị chế độ thực dân thống trị. Bởi vậy, những hình thức trình bày mà tác giả nêu ra khi viết cuốn sách không chỉ cho đối tượng được tuyên truyền mà còn thuận lợi cho cả người đi tuyên truyền cuốn sách. Sự vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, giản tiện, mau mắn và chắc như 2 nhân 2 là 4 trong hình thức thể hiện của cuốn sách biểu thị tính mục đích cao của Đường cách mệnh, và đó chính là phương pháp Hồ Chí Minh trong tuyên truyền cách mạng, là quan điểm Nguyễn Ái Quốc khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam thông qua sách Đường cách mệnh. Đó không chỉ là những yêu cầu đối với hình thức của cuốn sách mà đồng thời còn là yêu cầu cơ bản về nội dung trong cuốn sách.
2 - Sự lựa chọn nội dung
Những nội dung của chủ nghĩa Mác - Lê-nin được viết trong Đường cách mệnh để truyền bá vào Việt Nam phải bảo đảm yêu cầu vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, giản tiện, mau mắn và chính xác là bao gồm những vấn đề gì và được tác giả thể hiện vào cuốn sách như thế nào?
Sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Đường cách mệnh là một cuốn sách "phác thảo đường lối cứu nước"[3], nhưng "là tư tưởng cốt lõi trong con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc"[4] và chỉ ra nội dung sách gồm 6 vấn đề: Một là, chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đa số dân chúng. Hai là, mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam. Ba là, về lực lượng cách mạng. Bốn là, về phương pháp cách mạng. Năm là, đoàn kết quốc tế. Sáu là, cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng.
Từ việc phân tích 6 nội dung trên, sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam viết: "Không những Nguyễn Ái Quốc nắm vững thực chất chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà ngay từ đầu đã biết vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm cách mạng nước mình"[5].
Sách Hồ Chí Minh - tiểu sử[6] cũng xác định rằng: Đường cách mệnh đã "trình bày những điều cốt lõi của học thuyết cách mạng Mác - Lê-nin và phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam dưới dạng dễ hiểu nhất" và chỉ ra nội dung của Đường cách mệnh về cơ bản thống nhất với nội dung mà sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ở trên.
Điểm khác trong hai cuốn sách này là: trong khi sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không nói tới mục Tư cách một người cách mệnh thì sách Hồ Chí Minh - tiểu sử lại coi mục Tư cách của người cách mệnh là nội dung trước hết của tác phẩm. Sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không giới thiệu mục "các tổ chức quần chúng của Quốc tế Cộng sản" đã được trình bày như những mục riêng trong sách Đường cách mệnh nhưng sách Hồ Chí Minh - tiểu sử - tuy không nói tới việc cuốn sách trình bày về mục Quốc tế, (nói tới các tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân trong đó có Đệ tam quốc tế - tức Quốc tế Cộng sản - nhưng lại nhấn mạnh tới việc: "Đường cách mệnh giới thiệu các tổ chức quần chúng của Quốc tế Cộng sản như Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công hội đỏ, Quốc tế Nông dân, Quốc tế Cứu tế đỏ, hướng quần chúng nhân dân ta tổ chức theo mẫu hình đó và tham gia, ủng hộ các tổ chức quốc tế nói trên"[7].
(Nhưng chưa rõ tại sao hai cuốn sách trên không đề cập tới mục Hợp tác xã có trong phần cuối cùng của cuốn Đường cách mệnh!?)
Nêu lên mấy nét trên không phải với mục đích chỉ ra sự khác biệt cụ thể của hai cuốn sách này, mà để thấy, không phải những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc cho là vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, giản tiện, mau mắn, chính xác và chắc chắn, theo cách suy nghĩ và do chính Người trình bày, có thể dễ tiếp thu, dễ truyền bá; mà ngày nay, do cách tiếp cận, dường như chúng ta không những chưa lĩnh hội đầy đủ về nội dung cuốn sách, mà còn chưa chỉ ra được yêu cầu vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, giản tiện, mau mắn và chính xác về nội dung của cuốn sách như thế nào.
Theo cách tiếp cận của chúng tôi, có thể thống nhất nội dung nhận xét về tinh thần của cuốn sách Đường cách mệnh với sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh - tiểu sử đã trình bày ở trên (nội dung thực chất, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong sách Đường cách mệnh), nhưng những nội dung vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ và chính xác, biểu hiện thực chất, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được Nguyễn Ái Quốc trình bày như thế nào trong sách Đường cách mệnh?
Trong Đường cách mệnh, trước khi viết cụ thể về mục đích của cuốn sách, tác giả luận giải rằng: việc gì muốn thành công đều phải "ra sức", phải "bền gan", phải "đồng tâm" và muốn có được điều đó "phải hiểu rõ vì sao mà phải làm, vì sao mà không làm không được, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làm ngay không nên người này ngồi chờ người khác. Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì làm mới chóng"[8]. Với quan điểm chung như vậy, tác giả xác định rằng: "Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh. (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? (6) Cách mệnh thì phải làm thế nào?"[9].
Sáu mục đích này đồng thời cũng là 6 vấn đề về nội dung mà Nguyễn Ái Quốc đã trình bày trong Đường cách mệnh.
Vậy, nội dung của cuốn Đường cách mệnh, với cách nhìn hiện nay, phải trở lại đúng tên gọi những vấn đề chủ yếu của nội dung mà Nguyễn Ái Quốc đã viết trong sách. Chỉ có như thế mới có thể hiểu rõ được tại sao trong 6 vấn đề trên đây, Nguyễn Ái Quốc lại nhấn mạnh chữ cách mệnh đến như vậy, và chúng ta cũng có thể hiểu hơn khi Người viết: "Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!".
Những vấn đề trên cho thấy: 1. Nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà
Nguyễn Ái Quốc lựa chọn đưa vào sách để truyền bá vào Việt Nam là những vấn đề nhằm tạo ra niềm tin cho người được tuyên truyền đối với cuộc cách mạng mà họ sẽ tin theo và tiến hành. 2. Những nội dung căn bản đó của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thông qua Nguyễn Ái Quốc, có thể nói là đã được Nguyễn Ái Quốc hóa (chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được Nguyễn Ái Quốc hóa), trở nên hết sức vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ, chính xác bằng việc trình bày thông qua cách lí giải ngắn gọn và bằng những sự thật lịch sử, do đó đạt cả yêu cầu cho người truyền đạt và người được tuyên truyền. Phương thức này vừa tạo ra sự gợi ý vừa mở ra hướng trả lời thông qua sự tự lựa chọn - lựa chọn lịch sử của người được tuyên truyền mà không cần áp đặt vào đó minh chứng về tính đúng đắn của chủ thuyết được tuyên truyền. Điều đó đánh thức sự chủ động, năng lực lựa chọn để khẳng định niềm tin đưa tới sự tự nguyện và khả năng sáng tạo của mỗi con người và cao hơn là một cộng đồng dân tộc về con đường tiến lên của mình. 3. Những nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin sau khi được Nguyễn Ái Quốc hóa lại được Người vận dụng cụ thể và rất tinh tế vào hoàn cảnh nước ta thông qua và bằng một loạt câu hỏi như: Ý nghĩa của cách mạng Mỹ với cách mạng An Nam thế nào? Cách mạng Pháp đối với cách mạng Việt Nam thế nào? làm gương cho chúng ta về những việc gì? Cách mạng Nga đối với cách mạng Việt Nam thế nào? Đệ tam quốc tế đối với cách mạng Việt Nam thế nào? Quốc tế này đối với cách mạng Việt Nam ra thế nào? Quốc tế này đối với cách mạng có ích gì? Cách mạng Việt Nam nên theo quốc tế này không? Cách tổ chức như thế nào?... Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại dành mục Hợp tác xã trong phần cuối của cuốn sách Đường cách mệnh? Có thể hình dung như một gợi ý về một xã hội trong đó con người hợp tác với nhau trong lao động là phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam chăng?
Những vấn đề trên cho thấy sự thấu hiểu, nắm vững thực chất của Nguyễn Ái Quốc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn Việt Nam. Chỉ có trên cơ sở thấu hiểu, nắm chắc thực chất cả chủ thuyết và thực tiễn như vậy, Nguyễn Ái Quốc mới có thể biến những vấn đề hết sức phức tạp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin (không chỉ sự phức tạp về nội dung mà cả trong sự trình bày) thành những vấn đề vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ và do đó mới chắc chắn đặt vấn đề Việt Nam nên theo cái gì và làm như thế nào để cách mạng thành công. Đây chính là bí quyết thắng lợi của Nguyễn Ái Quốc trong tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lê-nin vào Việt Nam - một đất nước có những đặc trưng riêng của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến với đa số cư dân là nông dân thất học, mù chữ.
3 - Chúng ta học được gì qua việc nghiên cứu hình thức và nội dung mà Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng trong sách Đường cách mệnh để vận dụng vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và việc xây dựng, tuyên truyền nghị quyết, đường lối, chủ trương của Đảng trong điều kiện hiện nay?.
Một là, phải hiểu đầy đủ và nắm vững thực chất nội dung học thuyết, tư tưởng, chủ trương được tuyên truyền. Chỉ có trên cơ sở đó mới truyền bá chính xác, đúng đắn và hiệu quả nội dung của nó và tìm ra được những hình thức đáp ứng yêu cầu biến những vấn đề phức tạp thành vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ và chắc chắn được. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin được Nguyễn ái Quốc hóa chính là một biểu hiện nắm vững thực chất lý luận Mác - Lê-nin của Người và do đó đã đáp ứng yêu cầu đã đề ra cả về nội dung và hình thức thể hiện. Đây là vấn đề cốt lõi nhất.
Hai là, nắm vững thực chất nội dung lý luận phải gắn với hiểu biết chính xác thực tiễn với sự vận động không ngừng của nó trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Thực tiễn này không chỉ là hoàn cảnh lịch sử, mà bao gồm cả những đòi hỏi cấp thiết cũng như lâu dài cũng như trình độ của nhân dân, để từ đó lựa chọn và bắt đầu tiến hành với những nội dung căn bản nào của vấn đề định tuyên truyền cho phù hợp với thực tiễn của đất nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ và chắc chắn về nội dung. Đây là vấn đề vận dụng tư tưởng, lý luận một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của nước mình thể hiện trong nội dung tuyên truyền. Tư tưởng, lý luận có đi vào cuộc sống hay không lại phụ thuộc vào vấn đề này.
Ba là, phương thức thể hiện phải tạo ra sự chủ động và phát huy khả năng tự nhận thức, tự lựa chọn và sáng tạo cho cả người tuyên truyền và người được tuyên truyền, không thụ động trước những quan điểm đã được minh chứng chủ quan và xác định sẵn về sự đúng đắn của nó. Đem lịch sử các nước làm gương cho chúng ta soi trong Đường cách mệnh mà Nguyễn Ái Quốc sử dụng chính là trên ý nghĩa đó. Điều này làm tăng thêm niềm tin khi đối tượng tự nhận thức về sự đúng đắn của lý luận thông qua thực chứng lịch sử. Lý luận có được thực hiện bằng hành động tự giác và được tiếp tục phát triển hay không là phụ thuộc vào phương thức truyền bá này.
Nắm vững thực chất tư tưởng, lý luận, thực tiễn và với một phương pháp đúng để biến những luận giải phức tạp của tư tưởng, lý luận thành những vấn đề vắn tắt, dễ nhớ, dễ hiểu, chắc chắn là bí quyết thắng lợi của Hồ Chí Minh trong tuyên truyền cách mạng.
Ngày nay, cho dù với phương tiện truyền thông luôn được ứng dụng các kĩ thuật hiện đại nhất vẫn phải coi quan điểm trên là phương châm của công tác tuyên truyền. Đây chính là nội dung và hoạt động chủ yếu của sự cạnh tranh toàn cầu trên lĩnh vực truyền thông hiện đại. Với tất cả các ý nghĩa trên, có thể nói giá trị về hình thức và nội dung của Đường cách mệnh trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải chỉ có ý nghĩa về phương diện lịch sử mà có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc với chúng ta ngày nay.
--------------------------------------------------------------------------------
[1], [2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 2, tr 262
[3], [4], [5] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 35, tr 39
[6], [7] Hồ Chí Minh - tiểu sử: Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006, tr 181, tr 180
[8], [9] Hồ Chí Minh: Sđd, tr 261, tr 261 - 262.
PGS, TS Phạm Hồng Chương
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Tags:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NỀN GIÁO DỤC THEO TINH THẦN NHO GIÁO
Khổng Tử - ông tổ của Nho gia, sống và hoạt động ở thời Xuân thu (1) một thời đại lịch sử mà các nhà Nho sau này đã phê phán là thời “đời suy đạo hỏng”, “vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con” đạo lý cương thường đảo ngược, thiên hạ đại loạn. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào những sự thực lịch sử không thể phản bác để chứng minh rằng đó là một thời kỳ có nhiều có biến chuyển lớn lao, ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt hoạt động của xã hội Trung Hòa cổ đại.
Nhìn chung, đó là thời kỳ mà hoa tộc (hạt nhân của Hán tộc sau này) đã hình thành do sự hỗn hợp nhiều chủng tộc khác nhau trên cơ sở dân cư miền trung nguyên (miền đất đai rộng lớn phì nhiêu nằm giữa phía nam Hoàng Hà và phía Bắc Trường Giang). Cương vực của Trung Hoa cổ đại đã ổn định sau các cuộc chiến tranh với nước ngoài và chiến tranh khiêm tính giữa các nước chư hầu; nông nghiệp, công thương nghiệp khá phát triển, văn hóa giáo dục vốn do quý tộc khống chế lũng đoạn đã dần dần truyền bá xuống các giai tầng khác trong xã hội và có đà phát triển mạnh mẽ. Quý tộc cũ (công thất) suy vi dần (do ăn chơi xa xỉ, do sát phạt lẫn nhau để tranh quyền đoạt lợi… ); Thế lực của quý tộc mới (nòng cốt là giai cấp địa chủ mới hưng khởi) ngày càng chiếm ưu thế); Tầng lớp tiểu nông bị phá sản hàng loạt, lâm vào cảnh đói khổ triền miên... Những biến đổi to lớn ấy thế tất phải phản ánh vào những hoạt động văn hóa tư tưởng. Nhiều nhà trí thức lớn đã xuất hiện, đề xuất nhiều phương án nhằm cải tạo và phát triển xã hội, hoặc chí ít cũng nhằm ổn định lại những mặt chủ yếu của cuộc sống trong thời đại đầy biến động này, dưới nhiều quan điểm triết học tư tưởng khác nhau. Nổi bật nhất có thể kể: Khổng tử đại biểu cho học phái Nho gia; Mặc Địch đại biểu cho Mặc gia; Lão tử, Trang tử đại biểu cho Đạo gia và hàng loạt nhà hoạt động chính trị mang tư tưởng pháp gia mà tiêu biểu hơn cả là Hàn Phi tử ở thời Chiến quốc.
Nho gia chủ trương bảo vệ “công thất”, bảo tồn những giá trị, những thiết chế văn hóa cũ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ 11 đến năm 771 TCN), ra sức tuyên truyền cho lễ nhạc, danh phận, tông pháp, hiếu đế nhân nghĩa, cương đạo, nhân chính v.v... mong muốn dùng những điều đó để giáo hóa nhân dân, để củng cố vương triều, để hạn chế bớt sự tham lam, tàn bạo, xa xỉ, lạm quyền, chuyên chế của giai cấp thống trị, nhằm ổn định cục diện xã hội chính trị đương thời. Mặc gia chủ trương thuyết kiêm ái, muốn quân bình tài sản, thực hành tiết kiệm, tôn trọng người hiền tài... Đạo gia chủ trương thuyết “vô vi”, thuận theo tự nhiên, lý tưởng hóa cuộc sống cổ ở nơi thôn dã... Pháp gia chủ trương đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, coi trọng những vấn đề của cuộc sống trước mắt, ít chú ý tới các thánh chúa hiền vương thuở trước. Ngay cả những điều hiếu đễ nhân nghĩa... cũng không thu hút được sự quan tâm của họ.
Thời bây giờ “vương thất nhà Chu” chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Ở các nước chư hầu “công thất” nói chung chỉ còn hư vị; thực quyền nằm cả trong tay các đại phu, các gia thần... Chính vì vậy, các chủ trương tôn Chu, ủng hộ công thất hạn chế quyền lực của đại phu, gia thần, chính danh phận, thực hành lễ giáo, đức trị v.v... do Khổng tử đề xuất hoàn toàn không phù hợp với yêu cầu và khẩu vị của những thế lực đương quyền. Ông đã từng đến nhiều nước chư hầu để tìm cách “thi hành đạo lớn” nhưng chẳng được nước nào tin dùng. Thất bại trên trường chính trị, ông lui về dồn hết tâm trí, sức lực việc chỉnh lý di sản văn hóa cổ và dạy học cho tới những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. Chính trong lĩnh vực này Khổng tử đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có giá trị lịch sử nổi bật, tạo ra được những hướng cực kỳ sâu sắc đối với đời sau.
Các quan điểm về giáo dục cũng như thực tiễn hoạt động giáo dục của Khổng tử gắn bó chặt chẽ với tư tưởng triết học và hệ thống quan điểm chính trị xã hội của ông. Nói cách khác, sau khi bị bế tắc trên đường hoạt động chính trị, Khổng tử đã gửi gắm hoài bão vào việc đào tạo một tầng lớp nhân tài theo khuôn mẫu, lý tưởng của mình. Khả dĩ thay mình thực hành “đạo lớn” trong thiên hạ. Nghe nói, ông có tới 3000 học trò, trong số đó có 72 người thành đạt nổi (thất thập nhị hiền).
Theo Luận ngữ (sách ghi lời nói việc làm của Khổng tử và của một số môn đồ) thì nội dung giảng dạy của Khổng tử bao gồm 4 phân khoa: đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học. Tuy có sự phân chia như vậy nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là bồi dưỡng những người có đức nhân, người quân tử có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Nhìn tổng quát, nền giáo dục theo tư tưởng Nho gia ở giai đoạn sơ khởi, do Khổng tử đích thân tổ chức và tiến hành, có một số điểm cần đặc biệt lưu ý như sau:
1.Thích ứng với xu thế “văn hóa học thuật chuyển xuống dưới” ở thời Xuân Thu, hoạt động giáo dục của Khổng tử trên chừng mực nhất định có mang tính chất phổ cập, bình dân, chống độc quyền văn hóa của giai cấp quý tộc. Ông từng nói: “Trong việc dạy dỗ, ta không phân biệt loại người này, loại người kia” (Hữu giáo vô loại) – thiên Vệ Linh Công – Sách Luận ngữ; “Từ người chỉ có một bó nem mang đến (để làm lễ ra mắt xin học), trở lên, ta chưa từng (vì lễ vật đơn sơ) mà từ chối không dạy “Tự hành thúc tu dưỡng thượng, ngô vị thường vô hối yêu”- thiên Thuật nhi - sđd)… Chủ trương này được thực hiện khá rộng rãi và nhất quán ở các đời sau, kết hợp với chế độ thi cử, thực tế đã mở đường tiến thân cho nhiều người có tài năng xuất thân từ bình dân (đó chính là hiện tượng “bố ý khanh tướng” - các khanh tướng xuất thân từ tầng lớp bình dân, áo vải).
2. Đề cao việc học tập - Khổng tử quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có sẵn mà phải được tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Ngay các đức tính như nhân, trí, tín, trực, dũng, cương cũng cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng dụng hoàn hảo. Ông chủ trương muốn ra hành đạo giúp đời cần phải học thật giỏi (“Học ưu tắc sĩ”). Sách Luận ngữ còn ghi lại một đoạn đối đáp giữa Khổng tử và học trò là Tử Cao như sau: “Tử Lộ muốn đưa Tử Cao (một người chưa được học hành đến nơi đến chốn) ra làm chức huyện trưởng huyện Phí. Khổng tử nghe tin đó bèn nói: “Như vậy là làm hại con nhà người ta!” Tử Lộ nói: “Nơi đó có dân, có đất đai, có thóc lúa (cứ đứng ra mà cai trị rồi sẽ quen việc) hà tất phải học tập trên sách vở rồi mới được coi là có học!” Khổng tử bèn mắng luôn: “Vì vậy ta mới ghét cái trò nguy biện khéo nói của nhà ngươi” (xem Thiên Tiên Tiến - Sđd). Truyền thống “hiếu học” của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng Nho giáo có lẽ cũng bắt nguồn từ đây.
3. Xác định rõ mục đích của việc học tập, đó là: hành đạo, giúp vua, giúp nước. Ông từng nói: “Học thuộc lòng ba trăm bài thơ trong Kinh Thi, giao cho việc chính sự, không làm nổi; sai đi sứ ở bốn phương, không biết đối đáp ra sao. Như vậy thì tuy học nhiều thật đấy nhưng nào có ích lợi gì đâu“ (xem Thiên Tử Lộ - Sđd)... Sau khi đã khẳng định giá trị của tập Kinh Thi: “Làm người mà không học thơ Chu Man, Thiệu Man thì chẳng khác gì đứng quay mặt vào tường (chẳng nhìn thấy gì, mà cũng chẳng nhúc nhích tiến tới được một bước)” và “Học Kinh Thi có thể phát huy khả năng liên tưởng, có thể nâng cao năng lực quan sát, có thể rèn luyện tính hợp quần, có thể học được cách châm biếm phúng thích”, Khổng tử đã nhấn mạnh “gần thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ cha, xa thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ vua…” (Xem Thiên Dương Hóa - Sđd). Chủ trương này sẽ được tiếp tục triển khai thành các mệnh đề “trí quân trạch dân”, “Kinh bang tế thế” trong tư tưởng các nhà Nho lớp sau.
4. Kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức. Ở mức độ nhất định, có thể nói Khổng tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số một. Ông từng căn dặn các môn đồ nhỏ tuổi: “Này các trò, ở trong nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người nhưng nên gắn đủ những người có đức nhân. Thực hiện được đầy đủ những việc đó rồi, nếu còn dư sức lực thì sẽ dùng để trau dồi tri thức văn hóa” (xem Thiên Dương Hóa - Sđd).
5. Theo quan niệm của Khổng tử, đỉnh cao mà việc rèn luyện nhân cách cần đạt tới là con người “toàn đức” (bao gồm cả ba phẩm chất nhân, trí, dũng, con người coi việc thực hiện “đức nhân” là lý tưởng tối cao, có thể hy sinh thân mình để hoàn thành điều nhân (sát thân thành nhân). Rất coi trọng vai trò của ý chí lý tưởng, ông từng nói: “Có thể bắt sống tướng soái của ba quân nhưng khó lòng cưỡng ép một người bình thường rời bỏ ý chí” (xem Thiên Tử Hãn - Sđd). Chính những chủ trương quan niệm trên đây đã góp phần tạo nên cái sau này được gọi là “khí tiết sĩ phu”, góp phần tạo nên những nhân cách cứng cỏi: “Phú quý không thể làm sa đọa đam mê, nghèo khổ không thể lay chuyển được ý chí, uy vũ không thể khuất phục nổi” (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).
Trên đây là những ưu điểm chủ yếu của nền gáo dục theo tinh thần Khổng giáo, ở giai đoạn mở đầu, được chắt lọc theo hướng “gạn đục khơi trọng”. Tất nhiên, với nền giáo dục ấy, còn xa mới có thể vươn tới hình mẫu một con người phát triển toàn diện. Khổng tử coi trọng việc học nhưng lại không quan tâm đến nền sản xuất xã hội hoặc ứng dụng cái học vào lãnh vực sản xuất vật chất (bằng lao động chân tay hoặc lao động trí óc). Một học trò của Khổng tử là Phàn Trí xin học về kỹ thuật cày cấy. Ông nói: “Kiến thức của ta về mặt này không bằng một lão nông”. Lại xin học nghề làm vườn. ông nói: “Ta không bằng một lão làm vườn”. Tiếp đó, ông chê Phàn Trì là tiểu nhân. Ông quan niệm rằng, cứ học giỏi Thi Thư Lễ Nhạc... “rèn luyện đạo đức cho tốt, cai trị dân cho giỏi thì lo gì không có thóc lúa mà ăn, cần gì phải học cấy cày trồng trọt” (xem Thiên Tử Lộ - sđd). Có lẽ đây là căn nguyên đã khiến cho trong hàng ngũ các nho sĩ đầu óc thực nghiệp kém phát triể. Khổng Tử chủ trương “Thuật nhi bất tác” (chỉ trình bày giới thiệu lại nền văn hóa cũ (của Tây Chu) chứ không sáng tạo thêm cái gì mới), quá đề cao thuyết “ôn cố tri tân” (ôn cũ biết mới) một cách phiến diện một chiều nên cũng đã góp phần tạo nên sự trì trệ, bảo thủ trong lĩnh vực hoạt động tinh thần. Và, cố nhiên, ngay cả với những đỉnh cao của giá trị nhân cách, với những biểu hiện tập trung nhất, tỉnh táo hợp lý nhất của “khí tiết kẻ sĩ”, cũng còn phải hội tụ được nhiều giá trị khác nữa (do hoàn cảnh, điều kiện chủ quan và khách quan cung ứng) mới có thể nói đến những phẩm chất nhân cách kiểu mới mà chúng ta thường quan niệm như: khai phóng, tự do, làm chủ bản thân, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân mình...
Xét tới cùng, đó cũng là một tất yếu lịch sử. Ở đây, khi đánh giá công lao của Khổng tử trong sự nghiệp giáo dục ở thế giới cổ đại, chúng ta cần phải nhớ tới lời căn dặn của V.I.Lênin: “Khi xét công lao của các vĩ nhân, người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống hiến được gì cho nhu cầu của thời đại chúng ta, mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được những gì so với các bậc tiền bối của họ”. Nhìn vào cuộc sống văn hóa tinh thần của Trung Hoa cổ đại trước và sau thời kỳ hoạt động của Khổng tử, chúng ta thấy rõ sự đóng góp của ông quả thực là lớn lao, đặc biệt là về mặt đề cao tinh thần nhân bản.
Nho giáo vào Việt Nam khá sớm, cùng với sự du nhập ngôn ngữ văn tự Hán bám sát theo sau các đoàn quân viễn chinh. Chính vì vậy, trong khoảng 10 thế kỷ đầu Công nguyên, không thể nói rằng đã có một nền Nho học ở Việt Nam. Sự kiện học thuật này sẽ xuất hiện ở những thế kỷ tiếp theo, đặc biệt là sau khi nền độc lập tự chủ của quốc gia phong kiến Việt Nam đã được củng cố và phát triển.
Có thể hình dung về đại thể quá trình tiếp nhận ngôn ngữ văn tự Hán kèm theo đó là nền Hán học (Nho học) ở Việt Nam qua hai giai đoạn lớn sau đây:
Giai đoạn l: (khoảng trước sau thế kỷ I trước CN cho tới thế kỷ 10 sau CN). Cùng với các đoàn quân xâm lược và lực lượng đô hộ của phong kiến phương Bắc, ngôn ngữ văn tự Hán (kèm theo đó là văn hóa Hán, Nho học...) cũng đã ồ ạt tràn vào Việt Nam. Các lực lượng chiếm đóng cũng đã có nhiều cố gắng trong việc phổ biến thứ ngôn ngữ văn tự và nền văn hóa học thuật này nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân ta. Nhưng, sau gần một ngàn năm nỗ lực, kết quả thu được thực quá ít ỏi. Chỉ có vài người được coi là tinh thông Hán học như Lý Cầm, Lý Tiến, Khương Công Phụ..., lại là những người sang “chính quốc” du học, và phần lớn đã ở lại làm quan bên “chính quốc”. Tên tuổi của họ - nói chi đến sự nghiệp văn chương sớm bị chìm trong quên lãng. Duy chỉ có Tinh Thiều, cũng tinh thông Hán học, nhưng đã từ bỏ con đường hợp tác với lực lượng đô hộ, tham gia cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, được cử làm tướng văn, đứng đầu ban văn của triều đình nước Vạn Xuân, là còn thấy lưu danh trong sử sách.
Giai đoạn 2: bắt đầu khoảng thế kỷ 10. Trong hoàn cảnh đã giành được nền độc lập tự chủ, tiến lên xây dựng quốc gia phong kiến hùng mạnh, nền Hán học ở nước ta đã có những bước phát triển mau lẹ. Nhìn chung, việc tìm hiểu nghiên cứu và vận dụng những tri thức Hán học (trong đó những kiến giải về Nho giáo đóng vai trò chủ chốt) ở nước ta trong giai đoạn này đã có những nét nổi bật, bộc lộ rõ xu hướng học tập tinh hoa văn hóa bên ngoài để xây dựng nền học thuật nước nhà.
Có thể nói, đây cũng là một trường tranh đấu mà tổ tiên ta đã dũng cảm kiên trì với tài trí thông minh tuyệt vời để một mặt thì vươn lên chiếm lĩnh lấy đỉnh cao của văn minh đương thời, để nước ta “không kém gì Hoa Hạ” (“bất tôn ư Hoa Hạ” - Hoa Hạ được dùng để trỏ Trung Quốc) và mặt khác thì vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc dân tộc, do đó đã có được những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa chung của khu vực, của nhân loại. Đành rằng, trong một thời gian kể cũng khá dài, giai cấp phong kiến và tầng lớp nho sĩ Việt Nam đã quá sính dùng chữ Hán, đã quá mê tín “Tử Viết, Thi Vân” (Khổng tử đã nói, Kinh Thi có câu… ) Nhưng xét cho kỹ, tất cả những yếu tố ngôn ngữ - văn hóa từ ngoài đưa tới đó, muốn có một sinh mệnh thực sự trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc thì đều phải trải qua nhiều lần thoát xác cải biên, Việt hóa sâu sắc. Âm Hán Việt - cách đọc chữ Hán của người Việt Nam; từ Hán Việt với những đổi thay nhất định về kết cấu ngữ nghĩa, về phạm vi sử dụng, về sắc thái biểu cảm; cả một nền văn chương chữ Hán đồ sộ của người việt Nam; chữ Hiếu, quan niệm về Nhân Nghĩa của Nguyễn Trãi, cái nhìn khoáng đạt về cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm; chữ Tài, chữ Tình trong tâm tưởng của Nguyễn Du, lẽ cương thường trong suy tư và hành động của các chiến sĩ Cần Vương cuối thế kỷ trước... Tất cả đều góp phần tô đậm màu sắc Việt Nam trong việc tiếp nhận và ứng dụng hệ thống ngôn ngữ - tư tưởng - văn hóa ngoại lai này. Trong quá khứ lịch sử, người Việt Nam đã dành ra khá nhiều năm tháng để nghiên cứu học tập và ứng dụng nền văn chương học thuật Trung Quốc mà nòng cốt là tư tưởng Khổng Mạnh. Qua các lớp học của thầy đồ nơi thôn xóm ngay từ thuở tóc còn để trái đào, trẻ con Việt Nam ngày xưa đã làm quen với những câu chữ “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Nhân chi sơ tính bản thiện”, “Thiên tử trọng hiền tài...” (học lễ trước, học các tri thức văn hóa khác sau; con người ta ngay từ đầu tính vốn thiện, Thiên tử coi trọng người hiền tài, giỏi giang...). Lớn lên, qua Tứ thư (Đại Học, Trung dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu), tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam lại đi sâu nghiên cứu những lý thuyết về Vương đạo, nhân chính, về trung hiếu tiết nghĩa, những mong muốn đem các số học ra ứng dụng để “cứu khốn phò nguy” để “kinh bang tế thế”...
Nền giáo dục học thuật kéo dài qua hàng trăm thế hệ ấy đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa, trong tâm thế ứng xử của người Việt Nam. Cách đây không lâu, người phụ nữ nông thôn bình thường nơi thôn xóm, chẳng cần phải qua cửa Khổng sân Trình, cũng dễ dàng phân biệt được về mặt chữ nghĩa sự khác nhau giữa hai chữ tiểu trong “tích tiểu thành đại” và “tiểu nhân”, một bên nói về lượng, một bên nói về chất. Kẻ tiểu nhân là kẻ thiếu nhân cách, kém đạo đức, mặc dù hắn có thể to con lớn xác. Và như vậy, hầu như là tự nhiên, họ đã tiếp cận được và lý giải được ý nghĩa nội hàm của những khái niệm khá cơ bản của đạo lý cổ truyền phương Đông Nho giáo. Điều này phần nào đã có thể nói lên được sự xâm nhập khá sâu của nền giáo dục theo tinh thần Khổng giáo vào xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, không cần kể đến những thiết chế văn hóa rộng lớn có tính chất bao trùm ngay trong nhiều tập quán sinh hoạt đời thường, hoặc như cách đặt tên người, tên đất (Lý Nhân, Vụ Bản, Dị Nâu, Bần Yên Nhân, Hành Thiện v.v..), chẳng hạn tất cả đều cho thấy dấu ấn của sự xâm nhập đó. Đây là một thực tế lịch sử buộc chúng ta phải đầu tư nhiều công sức, trí tuệ để tiếp cận, minh giải và xử lý nó một cách khoa học, nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trên đất nước ta trong giai đoạn hiện tại. Công việc này đòi hỏi những công trình nghiên cứu sâu rộng, trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa bộ môn. Dựa trên quan niệm quá khứ hiện đại - tương lai là một dòng liên tục, nhiều vấn đề của quá khứ có thể được coi như những “gợi ý lịch sử”, có ý nghĩa thực tiễn nhất định đối với cuộc sống hôm nay, qua những điều đã trình bày một cách giản lược ở trên về nền giáo dục theo tinh thần Nho giáo, chúng tôi muốn đề xuất một số điều nhận xét chung có thể coi như là cơ sở xuất phát, để tiếp tục đi sâu khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu Khổng giáo nói chung và nền giáo dục theo tinh thần Khổng giáo nói riêng trong quá khứ lịch sử ở Việt Nam.
Trước hết, cần thấy rõ tinh thần Khổng giáo đã thấm vào mọi ngõ ngách của đời sống người dân Việt Nam trong quá khứ, đã gây những ảnh hưởng rất sâu rộng. Hiện nay, những ảnh hưởng này vẫn tồn tại ở những mức độ khác nhau trong mọi mặt của cuộc sống, nhiều khi quá sâu sắc, tế vị, phức tạp, dưới muôn hình vạn trạng, không nên quan niệm một cách đơn giản rằng ảnh hưởng của Khổng giáo ở Việt Nam là không đáng kể chỉ tác động đến tầng lớp trên, tầng lớp có học v.v… Những di sản của Khổng giáo (xấu cũng như tốt). Vấn đề đặt ra là cần phải tìm cách nhận diện chúng và xử lý chúng một cách khoa học. Theo chúng tôi suy nghĩ, cần phải nhìn nhận những di sản này một cách “thực sự cầu thị”; cần phải nhìn nhận những di sản này một cách “thực sự cầu thị”; cần phải nghiên cứu để nhận thức chúng một cách lịch sử và biện chứng. Những yếu tố văn hóa Khổng giáo sở dĩ có thể sống lâu dài ở Việt Nam trước hết có lẽ là do bản thân chúng có mang theo những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại. Những giá trị phổ quát này đã tích hợp các giá trị văn hóa bản địa tương ứng, trên chừng mực nào đó đã được cấu trúc lại cho phù hợp nội tâm thế Việt Nam. Hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế -xã hội, ngay cả môi cảnh thiên nhiên, vị trí địa lý nữa v.v… cũng đã góp phần tạo thêm sức sống cho những yếu tố văn hóa ngoại nhập này. Có lẽ đó là những điều cần nghiên cứu tìm hiểu kỹ kỹ lưỡng để tránh thái độ nôn nóng, đơn giản… Khi muốn xóa bỏ ảnh hưởng này nọ được quan niệm là gắn bó với tinh thần Khổng giáo.
Cuối cùng, với cái nhìn rộng mở, trong hoàn cảnh ngày nay nhiều vấn đề của Phương Đông, nhiều giá trị truyền thông của Phương Đông đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của toàn thế giới, phải chăng đã có thể đề xuất việc nghiên cứu một cách thấu đáo để tiến tới xác lập một phương hướng đúng đắn và nhưng phương pháp khoa học tương ứng nhằm xử lý một cách tối ưu những di sản, những truyền thống văn hóa Khổng giáo trong cuộc sóng hiện tại. Thí dụ như Trung Hiếu là vấn đề tồn tại từ ngàn xưa. Trung Hiếu không phải là của riêng của dân tộc Trung Hoa, của riêng của Nho giáo. Có lẽ tổ tiên ta đã mượn hai danh xưng này để phát triển những tình cảm đã gắn bó với cộng đồng người Việt từ thuở bước vào cuộc sống có tổ chức. Qua các thời gian lịch sử, nội dung của Trung Hiếu có những phần được bổ sung, hiệu chỉnh cho ngày càng hoàn thiện hơn, mang tính chất con người hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất Trung với nước, Hiếu với dân..., có thể coi đây là mẫu mực của việc cải biên, nâng cao, thậm chí đổi mới nội dung của những khái niệm gắn bó với những bậc thang giá trị cũ, đem lại cho chúng sức sống mới trong thời đại mới.
Tags:
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÃO TỬ
570 trước Công Nguyên
1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI
Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, người Khổ huyện, nước Sở, sinh vào đầu năm Chu Linh Vương, khoảng 570 tr. CN tuy cùng thời với Khổng Tử, nhưng lớn hơn mười chín tuổi. Một việc mà người đời sau hay nhắc tới, là có lần Khổng Tử thỉnh giáo cùng Lão Tử. Cứ theo sách cổ ghi lại, thì nội dung cuộc hội đàm đó như sau (dịch theo ý chính cổ văn Hán):
Khổng Tử thưa: "Khâu tôi nghiên soạn Lục kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu. Tự coi đó là văn hiến lâu đời, biết đâu lại là đồ cũ. Đến với những bảy mươi hai vì vua, tham luận về đạo lý của tiên vương, giới bày về thành quả của đương triều, song chẳng được vị nào áp dụng cả. Đáng tiếc thay, sao người ta khó khuyên bảo thế, đạo lý khó sáng tỏ thế”
Lão Tử đáp: "(Bởi vì) những gì mà Ngài đưa ra trình bày, xương cốt của những người đó đã mục nát lâu rồi, chỉ còn lời nói ghi lại thôi. Cũng may là Ngài chưa gặp được vị nào gọi là vua tế thế. Lục kinh của Ngài đều là những vết cũ của tiên vương... Vết là do dấu chân đã qua mà để lại, nhưng vết là vết, chứ đâu phải bước chân đi? Nếu Nhân Nghĩa là ngôi nhà cổ của tiên vương, thì ta chỉ có thể trọ tạm một đêm thôi, chớ nên ở lâu... Nếu cứ để cho Nhân Nghĩa ăn sâu vào lòng, là làm rối thêm lòng, tai hại lớn đấy . Tôi có nghe, người ta đem vật quý giấu dưới chân tường đổ nát, quân tử có đức cao, thì dáng trông như đần độn vậy. Thôi, hãy bỏ cái khí phách kiêu hãnh và lòng ước muốn của Ngài đi. Phong cao chí lớn, đều vô bồ cho bản thân. Lời tôi khuyến cáo Ngài, chỉ có bấy nhiêu đó thôi".
- Khi tiễn chân Khổng Tử ra về, Lão Tử bảo thêm rằng: "Tôi có nghe, kẻ giầu sang lấy của tặng khách, người nhân đức mượn lời tiễn đưa. Tôi chẳng sang giầu, xin trộm tiếng nhân đức mà tặng cho Ngài một lời: Kẻ tài khôn, giữ kỹ trong lòng (những gì mình biết) cho đến lúc gần đến xa trời, mới là người có nghĩa. Nếu mang ra bàn tán thì nguy đến bản thân, bởi cái đó thường làm cho người ta oán ghét mình. Cho nên, ở vào địa vị con em, chớ tỏ ra mình hiểu biết hơn (Phụ huynh); ở vào địa vị thần dân, chớ tỏ ra mình hiểu biết hơn (vua quan)".
Lão Tử từng làm chức Thủ tạng thất (giữ kho") nhà Chu, sống ở đất Chu khá lâu. Sau đó, nhận thấy nhà Chu đã mất hết thật quyền thống lĩnh chư hầu, chẳng chóng thì chầy, rồi sẽ bại vong, nên quyết ý từ quan về quy ẩn, vui sống với cảnh sơn lâm, tiêu diêu thoải mái, cách biệt bụi đời(khi Lão Tử vừa đến cửa ải, người giữ cửa là Doãn Hỷ bảo: "Nghe đâu Ngài sẽ về ẩn dật, vậy tôi xin mạn phép ép Ngài viết sách để lại cho tôi". Để được sớm ra cửa quan, Lão Tử đành để lại cuốn sách, trong đó chỉ viết có năm ngàn lời, tức là cuốn Đạo Đức kinh, cũng gọi là "Lão Tử”(Có người cho rằng, cuốn Đạo Đức kinh thật ra là do các tín đồ Đạo giáo đời sau, họp sức soạn chung theo tư tưởng và lời dạy của Lão Tử). Rồi từ đó biệt tăm biệt tích luôn.
Bình sinh của Lão Tử, đến nay vẫn còn là một nghi vấn lớn, kể cả sách Sừ ký cũng chép không rõ ràng, bởi khi viết đến truyện Lão Tử, Tư Mã Thiên toàn dùng lời văn phất phưởng, như câu "Dĩ tự ẩn vô danh vi vu”. (Lấy sự mai”danh ẩn dật làm chánh), và cồ nhiều đoạn lại bỏ lửng. Để thấu rõ thêm phần nào chân tướng của một nhân vật quan trọng nầy, trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, xưa nay đã làm mất biết bao tâm lực và thì giờ của nhiều vị học giả, cố gắng tìm tòi khảo cứu, nhưng mãi cho đến bây giờ, vẫn chỉ được có một câu kết luận chung là : Trừ phi có thêm sử liệu mới, bằng không thì nhân vật thần bí này vẫn còn là một khúc mắc vĩnh viễn, chẳng ai tháo gỡ nổi. Tục truyền Lão Tử thọ đến 160 tuổi, thậm chí trên 200 tuổi. Theo lời giải thích trong sách Sử Ký, đó là nhờ "Dĩ kỳ tu đạo nhi dưỡng thọ". Những truyền thuyết đó đúng hay sai, tưởng chẳng liên quan gì cho lắm đến việc tìm hiểu tư tưởng, triết lý của Lão Tử. Sớ dĩ Lão Tử trở thành một nhân vật kỳ bí, sống mãi trong tâm hồn của người Trung Quốc, nhất là trong tầng lớp phi trí thức, phần lớn là do những truyền thuyết ảo huyền đó. Những truyền thuyết về cuộc đời của Lão Tử, điều nào thật, điều nào hư, chẳng ai nắm vững được. Vả lại Lão Tử là một "ẩn giả", nếu người ta biết rõ tận tường về đời tư của một “ẩn giả", thì đó mới là điều quái lạ.
Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, người Khổ huyện, nước Sở, sinh vào đầu năm Chu Linh Vương, khoảng 570 tr. CN tuy cùng thời với Khổng Tử, nhưng lớn hơn mười chín tuổi. Một việc mà người đời sau hay nhắc tới, là có lần Khổng Tử thỉnh giáo cùng Lão Tử. Cứ theo sách cổ ghi lại, thì nội dung cuộc hội đàm đó như sau (dịch theo ý chính cổ văn Hán):
Khổng Tử thưa: "Khâu tôi nghiên soạn Lục kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu. Tự coi đó là văn hiến lâu đời, biết đâu lại là đồ cũ. Đến với những bảy mươi hai vì vua, tham luận về đạo lý của tiên vương, giới bày về thành quả của đương triều, song chẳng được vị nào áp dụng cả. Đáng tiếc thay, sao người ta khó khuyên bảo thế, đạo lý khó sáng tỏ thế”
Lão Tử đáp: "(Bởi vì) những gì mà Ngài đưa ra trình bày, xương cốt của những người đó đã mục nát lâu rồi, chỉ còn lời nói ghi lại thôi. Cũng may là Ngài chưa gặp được vị nào gọi là vua tế thế. Lục kinh của Ngài đều là những vết cũ của tiên vương... Vết là do dấu chân đã qua mà để lại, nhưng vết là vết, chứ đâu phải bước chân đi? Nếu Nhân Nghĩa là ngôi nhà cổ của tiên vương, thì ta chỉ có thể trọ tạm một đêm thôi, chớ nên ở lâu... Nếu cứ để cho Nhân Nghĩa ăn sâu vào lòng, là làm rối thêm lòng, tai hại lớn đấy . Tôi có nghe, người ta đem vật quý giấu dưới chân tường đổ nát, quân tử có đức cao, thì dáng trông như đần độn vậy. Thôi, hãy bỏ cái khí phách kiêu hãnh và lòng ước muốn của Ngài đi. Phong cao chí lớn, đều vô bồ cho bản thân. Lời tôi khuyến cáo Ngài, chỉ có bấy nhiêu đó thôi".
- Khi tiễn chân Khổng Tử ra về, Lão Tử bảo thêm rằng: "Tôi có nghe, kẻ giầu sang lấy của tặng khách, người nhân đức mượn lời tiễn đưa. Tôi chẳng sang giầu, xin trộm tiếng nhân đức mà tặng cho Ngài một lời: Kẻ tài khôn, giữ kỹ trong lòng (những gì mình biết) cho đến lúc gần đến xa trời, mới là người có nghĩa. Nếu mang ra bàn tán thì nguy đến bản thân, bởi cái đó thường làm cho người ta oán ghét mình. Cho nên, ở vào địa vị con em, chớ tỏ ra mình hiểu biết hơn (Phụ huynh); ở vào địa vị thần dân, chớ tỏ ra mình hiểu biết hơn (vua quan)".
Lão Tử từng làm chức Thủ tạng thất (giữ kho") nhà Chu, sống ở đất Chu khá lâu. Sau đó, nhận thấy nhà Chu đã mất hết thật quyền thống lĩnh chư hầu, chẳng chóng thì chầy, rồi sẽ bại vong, nên quyết ý từ quan về quy ẩn, vui sống với cảnh sơn lâm, tiêu diêu thoải mái, cách biệt bụi đời(khi Lão Tử vừa đến cửa ải, người giữ cửa là Doãn Hỷ bảo: "Nghe đâu Ngài sẽ về ẩn dật, vậy tôi xin mạn phép ép Ngài viết sách để lại cho tôi". Để được sớm ra cửa quan, Lão Tử đành để lại cuốn sách, trong đó chỉ viết có năm ngàn lời, tức là cuốn Đạo Đức kinh, cũng gọi là "Lão Tử”(Có người cho rằng, cuốn Đạo Đức kinh thật ra là do các tín đồ Đạo giáo đời sau, họp sức soạn chung theo tư tưởng và lời dạy của Lão Tử). Rồi từ đó biệt tăm biệt tích luôn.
Bình sinh của Lão Tử, đến nay vẫn còn là một nghi vấn lớn, kể cả sách Sừ ký cũng chép không rõ ràng, bởi khi viết đến truyện Lão Tử, Tư Mã Thiên toàn dùng lời văn phất phưởng, như câu "Dĩ tự ẩn vô danh vi vu”. (Lấy sự mai”danh ẩn dật làm chánh), và cồ nhiều đoạn lại bỏ lửng. Để thấu rõ thêm phần nào chân tướng của một nhân vật quan trọng nầy, trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, xưa nay đã làm mất biết bao tâm lực và thì giờ của nhiều vị học giả, cố gắng tìm tòi khảo cứu, nhưng mãi cho đến bây giờ, vẫn chỉ được có một câu kết luận chung là : Trừ phi có thêm sử liệu mới, bằng không thì nhân vật thần bí này vẫn còn là một khúc mắc vĩnh viễn, chẳng ai tháo gỡ nổi. Tục truyền Lão Tử thọ đến 160 tuổi, thậm chí trên 200 tuổi. Theo lời giải thích trong sách Sử Ký, đó là nhờ "Dĩ kỳ tu đạo nhi dưỡng thọ". Những truyền thuyết đó đúng hay sai, tưởng chẳng liên quan gì cho lắm đến việc tìm hiểu tư tưởng, triết lý của Lão Tử. Sớ dĩ Lão Tử trở thành một nhân vật kỳ bí, sống mãi trong tâm hồn của người Trung Quốc, nhất là trong tầng lớp phi trí thức, phần lớn là do những truyền thuyết ảo huyền đó. Những truyền thuyết về cuộc đời của Lão Tử, điều nào thật, điều nào hư, chẳng ai nắm vững được. Vả lại Lão Tử là một "ẩn giả", nếu người ta biết rõ tận tường về đời tư của một “ẩn giả", thì đó mới là điều quái lạ.
2. Chủ Thuyết Đạo Học
Tư tưởng của Lão Tử được biểu lộ qua cuốn Đạo Đức Kinh, vỏn vẹn chỉ có năm ngàn chữ, thế mà đã gây ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Trung Hoa. Những trước tác chuyên giải nghĩa cho Đạo Đức Kinh, đến nay đã có trên 600 cuốn. Ở nước ngoài, chỉ riêng bản dịch Đạo Đức Kinh bằng tiếng Anh cũng đã nhiều đến 44 bản. Tựu trung, Đạo là ý niệm cơ bản nhất và quan trọng nhất trong cuốn Đạo Đức Kinh. Do đó, người ta gọi học thuyết của Lão Tử là Đạo học.
Nguyên chữ "Đạo" đã chứa rất nhiều hàm nghĩa, riêng trong chương 11 của cuốn "Trung Quốc triết học nguyên luận" của Giáo sư Đường Quân Nghị, cũng đã quy nạp đến những sáu điểm chính:
1/- Đạo thể hư vô.
2/- Đạo thể siêu hình.
3/- Đạo của hình tượng.
4/- Đạo của đồng đức.
5/- Đạo trong việc tu luyện đức tính và nếp sống.
6/- Đạo trong trạng thái sự vật cụ thể và cảnh giới tâm linh, nhân cách của con người.
Nhưng ngay câu mở đầu của Đạo Đức kình lại viết rằng: "Đạo khả đạo, phi trường đạo". (Đạo mà có thể cắt nghĩa được, thì chẳng là Đạo vĩnh thường). Vậy Đạo của Lão Tử như thế nào? Chúng ta có thể tìm hiểu Đạo đó qua tư tưởng và hành vi của Lão Tử. Bởi chán ghét thế cuộc nhiễu nhương, nhân sự chỉ đua đòi lợi lộc, Lão Tử chủ trương chính trị "vô vi”, mặc cho mọi việc thuận theo quy luật tự nhiên. Người cho rằng, sở dĩ thần dân khó trị là bởi cấp lãnh đạo "Hữu vi" (cố làm cái gì đó), nếu họ "vô vi" (chẳng làm gì cả), là dân "tự hóa" (tự giải quyết hết mọi sự việc) Lão Tử giải thích thêm rằng, khi ta hiếu tĩnh là dân tự chánh; ta vô sự là dân tự phú. Thậm chí còn chủ trương "Tuyệt Thánh khí tri" (Đoạn tuyệt với Thánh Hiền, loại bỏ trí thức) và "Tuyệt Nhân khí nghĩa" (Đoạn -tuyệt với cái gọi là Nhân, loại bỏ những gì gọi là Nghĩa) nữa, cứ để cho tất cả trở về với bản tánh chất phác, chân thật thôi. Xem lại lời đối thoại trên, giữa Lão Tử với Khổng Tử, chúng ta thấy tư tưởng và phong cách của Lão Tử khác hẳn với nhà Nho học, bởi tư tưởng đó có khuynh hướng "phản nhân văn", thiên về triết lý siêu hình, nên Lão Tử được coi là một triết gia rất lý trí và bình thản.
Nguyên lý siêu hình của Lão Tử, là ở câu mở đầu của Đạo Đức kinh như đã trích lục trên đây. Lão Tử cho ràng "Thường đạo" mới đúng với cái tính chất của Đạo mà Người định nói, đó là Đạo định thường, không thay đổi. Lão Tử giải thích Đạo đó là: "Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu. Ngô bất ta kỳ đanh, tự chi viết Đạo". Nghĩa là: có cái gì đó hỗn hợp thành hình, được sinh ra trước khi có trời đất. Nó tĩnh và thưa, biệt lập mà chẳng thay đổi, vận chuyển không ngừng, có thể nói đó là cái gốc của thiên hạ. Ta chẳng rõ tên, đặt đó là Đạo. Có nhiều học giả giải thích rằng, câu "tiên thiên địa sinh" là nói lên thời gian tồn tại của Đạo, đã có trước khi trời đất thành hình; "độc lập nhi bất cải" là nói lên tính cách biệt lập của Đạo, trong trạng thái vừa tĩnh vừa thưa; "chu hành nhi bất đãi" là nói lên tính cách phổ biến khắp nơi trong không gian của Đạo; riêng chữ "Mẫu” tức là cội”nguồn. Dù nói Đạo tuy chẳng là sự vật cụ thể hữu hình, nhưng trong tất cả mọi sự vật cụ thể đều có Đạo, bởi Đạo là căn nguyên của thiên địa Vạn vật.
Mặt khác, Lão Tử dùng Đạo để giải thích về nguyên lý của vũ trụ rằng: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Nghĩa là đầu tiên do Đạo hóa ra "Nhất" (Một), rồi "Nhị" (Hai), "Tam" (Ba). Vậy Nhất có nghĩa là gì? và Nhị, Tam được giải nghĩa ra sao? Xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau. Thậm chí có người cho rằng, "Nhất, Nhị, Tam" đó, gần như đồng nghĩa với quy luật "Chánh, phản, hợp" trong Biện chứng pháp của Hégel (1770 - 1831), bởi chương 40 của Đạo Đức kinh viết rằng: "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu (có), hữu sinh ư vô (không)". Vậy Nhất là Không, Nhị là Có, Tam là tổng hợp lại có với không, để nói lên quá trình sinh thành của vũ trụ. Lối giải thích như vậy, có đúng với sự thật hay không, là vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học. Riêng với nhà triết học, nhất là nhà triết học thời cổ, họ chẳng màng xét tới mà chỉ nghĩ rằng, phải có một lối giải thích nào cho trật tự vạn tượng bao la trong vũ trụ, cùng với quá trình sinh thành của vạn vật Trách nhiệm của triết gia chỉ thế thôi, đó là vũ trụ quan của Lão Tử, tuy quá đơn giản, nhưng rất khách quan và "vô lình", gần gũi với tinh thần khoa học, trái với vũ trụ quan "hữu hình", mà đời sau được đa số người Trung Quốc chấp nhận, theo quan điểm Nho học. Nếu chúng ta có hỏi thêm, tại sao Một có thể sinh ra Hai, và Hai sinh ra Ba, thì Lão Tử bảo rằng: "Phản giả Đạo chi động". (Sức tương phản, là nguyên động lực của Đạo) và rằng: "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô". (vạn vật trong thiên hạ được sinh ra từ chỗ Có. mà Có thì lại sinh ra từ chỗ không). Theo lời giải thích đó thì cần phải có thành phần tương phản. làm cho Đạo có được "nguyên động lực để tác khởi. Sỡ dĩ bảo "Có” sinh ra từ chỗ “Không” là bởi "Có" với “Không” vốn dĩ tương phản với nhau.
Nói chung, tư tưởng của Lão Từ gồm có những đặc điểm sau đây:
1/- Chống xã hội đương thời. Theo nhận xét của các nhà xã hội học, thời Xuân Thu Chiến quốc là lúc Trung Quốc bước vào giai đoạn xã hội biến thiên trọng đại. Khi một con người cảm thấy khó thích ứng với cuộc diện thay đổi trọng đại đó, họ sẽ phản ứng ra sao? Phương thức của nhà Nho, đứng đầu là Khổng Tử, gồm cả Mạnh Tử sau này, thì một mặt mong muốn trở lại với quy phạm hành vi nguyên thủy, như duy trì quy tắc lôn pháp dưới chế độ phong kiến nhà Chu; đồng thời mặt khác,sáng tạo nấc thang giá trị mới. Mong được xã hội công nhận, như cổ súy, đề cao đức tính Nhân Ái luân lý Trung Hiếu. Còn phương thức của Đạo gia, đứng đầu là Lão Tử, gồm cả Trang Tử sau này, thì bài bác, chống phá trật tự xã hội hiện hữu bằng hành vi tích cực, hoặc tự đặt mình ra ngoài vòng xã hội đó, bằng hành vi tiêu cực, như đi ẩn náu, mai danh lánh nạn chẳng hạn. Xuyên qua lời nói và trước tác (như Đạo Đức Kinh), người ta thấy Lão Tử luôn luôn giữ thái độ đả kích tập tục và chế độ xã hội đương thời, khiến cho tư tưởng và hành vi của Người, nhất nhất đều trái ngược với tình trạng thực tế trong lúc đó. Lúc đó là thời đại hiếu chiến, nước nào cũng lo tăng cường binh bị thì Lão Tử bảo rằng: “Giai binh giả bất tường chi khí”. (Quân lực mạnh, là thứ chẳng lành), và rằng: "Dĩ Đạo tá nhân chủ giả, bất dĩ binh cưỡng thiên hạ". (Kẻ biết dùng Đạo mà phò chúa, thì chẳng lấy chiến tranh làm phương tiện, để cưỡng bức thiên hạ). Đang lúc phần tử trí thức đua nhau chu du liệt quốc, ai nấy cố gắng thuyết phục vua chúa các nước chấp nhận ý kiến của mình, mong có thể làm được cái gì đó, thì Lão Tử lớn tiếng cảnh cáo họ rằng: "Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự, kịp kỳ hữu sự, bất túc dĩ thủ thiên hạ". (Được thiên hạ thường là chẳng gây nên chuyện, nếu đã gây nên chuyện, thì không đủ tư cách để được thiên hạ). Đó là lý tưởng chính trị trong thuyết "Vô vi" của Lão Tử.
2/- Phản kinh nghiệm, phản ta thức. Lão Tử viết: "Tuyệt học vô tư . (Có bỏ học mới hết ưu phiền); "Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn". (Càng có học cho lắm, càng có hại cho việc tu Đạo); "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri". (Người có học vấn chẳng bao giờ nói, kẻ hay nói mới là người không hiểu biết), Sở dĩ phải phản kinh nghiệm, phản trí thức, theo Lão Tử có hai lý do: Một là kinh nghiệm và trí thức khiến cho người ta hay lo âu, cho nên bảo "Tuyệt học vô tư ; hai là, kinh nghiệm và trí thức gây trở ngại cho việc tu Đạo, bởi lẽ hiểu biết nhiều chừng nào, thì càng thúc đẩy lòng ham muốn, đòi hỏi của người ta, đồng thời cũng dễ làm cho người ta nảy sinh cảm giác bất mãn với hiện tại, cho nên đã báo "Học nhiên hậu tri bất túc” (Câu này có nghĩa là: Học mà biết cho nhiều, rồi mới thấy đời người hãy còn thiếu lắm thứ quá. Lâu nay người ta thường hiểu ìâm là: Càng học càng thấy sự hiểu biết của mình hãy còn non kém). Bởi Lão Tử nhận định ràng, việc tu Đạo cần phải tĩnh mịch, đạm bạc, đẹp hết lòng ham muốn đi mới được. Nghĩa là Đạo của Lão Tử chẳng có liên hệ gì tới trí thức và kinh nghiệm cả, mà là thứ công phu thủ tĩnh, quả dục, đặng có thể đạt tới cảnh giới thanh tịnh, vô vi. Trở lại câu "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri". Cần phải hiểu ý nghĩa chữ "Tri" này là thứ tri trực giác, chẳng học mà tự mình ngộ ra chân lý của trời đất. Sở dĩ sau hai triều nhà Hán, Nho, Đạo và Thích, tam giáo có thể kết hợp nhau được, là thông nhau ở chỗ thanh tĩnh quả dục.
3/- Chất phác quy chân. Đây là đời sống lý tưởng của Lão Tử và tất cả những ai, là người tu Đạo chân chính. Bối cảnh dựng lên lý tưởng này có hai mặt: Về mặt chính trị, là thái độ ghét bỏ hành động bạo lực và đời sống xa xỉ, tâm tư dối trá của tầng lớp quyền thế trong xã hội đương thời; về mặt cá nhân đã gọi là "Ẩn quân tử", thì chất phác quy chân (Đời sống đơn giản bình dị, trở về với chân thật, với thiên nhiên), mới thật là đúng với cảnh sống mà Lão Tử hằng mơ ước.
4/- Công thành phất cư. Đây là nguyên tắc ở đời mà Lão Tử đem ra dạy đời. Đời bao giờ cũng khuyến khích người ta, gắng sức làm để được hưởng thành quả tốt đẹp, do công lao của mình tạo nên. Nhưng Lão Tử cho rằng, mọi thành quả đó, rất có thể đưa lại tai họa cho con người. Lão Tử bảo: "Sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trường nhi bất tể, thi vi nguyên đức". (Sống mà không giữ của, làm mà chẳng ỷ công, dù lớn cũng không đứng làm chủ tể, đó mới là cái đức nguyên vẹn) và rằng: "Công toại thân thoái, thiên chi đạo". (Khi đã đạt tới thành quả rồi thì rút lui ngay, là đúng với lẽ trời) và "Vi giả bại chi, chấp giả thất chi". (Kẻ ham làm sẽ gặp thất bại, kẻ ôm giữ sẽ bị mất mát). Vê điểm này Phạm Lãi làm được, Văn Chủng làm không được. Cả hai đều là công thần của Việt Vương Câu Tiễn, lịch sử đã chứng minh ai họa ai phước.
5/- Họa phước vô môn. Tránh họa cầu phước, là lẽ thường tình của con người, nhưng Lão Tử cho rằng, cái lẽ đó không chắc chắn. Bởi trong quá trình đời người, đâu là họa đâu là phước, thật khó nói lắm. Lão Tử bảo rằng, họa ư, lắm khi phước nhờ đó mà có; phước ư, biết đâu đó là căn nguyên của họa. Cho nên đã có chuyện "Tái ông thất mã, yên tri phi phúc".
6/- Dĩ nhu khắc cương. Lão Tử tin rằng "Nhu nhược thắng cương cường", và giải thích rằng: "Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng". (Dưới bầu trời này, còn thứ gì yếu mềm hơn nước, thế mà kẻ mạnh phá được thành trì kiên cố, cũng chẳng thể thắng nổi nước). Thuyết "Nhu khắc cương", hẳn là một trong những đặc điểm của triết lý Lão Tử.
Tư tưởng của Lão Tử rất thích hợp với những ai, là kẻ ưa sống gần gũi thiên nhiên,lại có phần tương thông với đức tính khiêm nhường, dung thứ, nhẫn nại của nhà Nho. Do đó, người theo Đạo học thích sống vào nơi thâm sơn cùng cốc, tĩnh tịch, xa lánh bụi trần tự tay kiếm ăn, tự mình chữa bệnh, người đời gọi đó là "Tu Tiên", mang sắc thái huyền bí như một tôn giáo, cho nên thường gọi là "Đạo giáo".
Nguyên chữ "Đạo" đã chứa rất nhiều hàm nghĩa, riêng trong chương 11 của cuốn "Trung Quốc triết học nguyên luận" của Giáo sư Đường Quân Nghị, cũng đã quy nạp đến những sáu điểm chính:
1/- Đạo thể hư vô.
2/- Đạo thể siêu hình.
3/- Đạo của hình tượng.
4/- Đạo của đồng đức.
5/- Đạo trong việc tu luyện đức tính và nếp sống.
6/- Đạo trong trạng thái sự vật cụ thể và cảnh giới tâm linh, nhân cách của con người.
Nhưng ngay câu mở đầu của Đạo Đức kình lại viết rằng: "Đạo khả đạo, phi trường đạo". (Đạo mà có thể cắt nghĩa được, thì chẳng là Đạo vĩnh thường). Vậy Đạo của Lão Tử như thế nào? Chúng ta có thể tìm hiểu Đạo đó qua tư tưởng và hành vi của Lão Tử. Bởi chán ghét thế cuộc nhiễu nhương, nhân sự chỉ đua đòi lợi lộc, Lão Tử chủ trương chính trị "vô vi”, mặc cho mọi việc thuận theo quy luật tự nhiên. Người cho rằng, sở dĩ thần dân khó trị là bởi cấp lãnh đạo "Hữu vi" (cố làm cái gì đó), nếu họ "vô vi" (chẳng làm gì cả), là dân "tự hóa" (tự giải quyết hết mọi sự việc) Lão Tử giải thích thêm rằng, khi ta hiếu tĩnh là dân tự chánh; ta vô sự là dân tự phú. Thậm chí còn chủ trương "Tuyệt Thánh khí tri" (Đoạn tuyệt với Thánh Hiền, loại bỏ trí thức) và "Tuyệt Nhân khí nghĩa" (Đoạn -tuyệt với cái gọi là Nhân, loại bỏ những gì gọi là Nghĩa) nữa, cứ để cho tất cả trở về với bản tánh chất phác, chân thật thôi. Xem lại lời đối thoại trên, giữa Lão Tử với Khổng Tử, chúng ta thấy tư tưởng và phong cách của Lão Tử khác hẳn với nhà Nho học, bởi tư tưởng đó có khuynh hướng "phản nhân văn", thiên về triết lý siêu hình, nên Lão Tử được coi là một triết gia rất lý trí và bình thản.
Nguyên lý siêu hình của Lão Tử, là ở câu mở đầu của Đạo Đức kinh như đã trích lục trên đây. Lão Tử cho ràng "Thường đạo" mới đúng với cái tính chất của Đạo mà Người định nói, đó là Đạo định thường, không thay đổi. Lão Tử giải thích Đạo đó là: "Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu. Ngô bất ta kỳ đanh, tự chi viết Đạo". Nghĩa là: có cái gì đó hỗn hợp thành hình, được sinh ra trước khi có trời đất. Nó tĩnh và thưa, biệt lập mà chẳng thay đổi, vận chuyển không ngừng, có thể nói đó là cái gốc của thiên hạ. Ta chẳng rõ tên, đặt đó là Đạo. Có nhiều học giả giải thích rằng, câu "tiên thiên địa sinh" là nói lên thời gian tồn tại của Đạo, đã có trước khi trời đất thành hình; "độc lập nhi bất cải" là nói lên tính cách biệt lập của Đạo, trong trạng thái vừa tĩnh vừa thưa; "chu hành nhi bất đãi" là nói lên tính cách phổ biến khắp nơi trong không gian của Đạo; riêng chữ "Mẫu” tức là cội”nguồn. Dù nói Đạo tuy chẳng là sự vật cụ thể hữu hình, nhưng trong tất cả mọi sự vật cụ thể đều có Đạo, bởi Đạo là căn nguyên của thiên địa Vạn vật.
Mặt khác, Lão Tử dùng Đạo để giải thích về nguyên lý của vũ trụ rằng: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Nghĩa là đầu tiên do Đạo hóa ra "Nhất" (Một), rồi "Nhị" (Hai), "Tam" (Ba). Vậy Nhất có nghĩa là gì? và Nhị, Tam được giải nghĩa ra sao? Xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau. Thậm chí có người cho rằng, "Nhất, Nhị, Tam" đó, gần như đồng nghĩa với quy luật "Chánh, phản, hợp" trong Biện chứng pháp của Hégel (1770 - 1831), bởi chương 40 của Đạo Đức kinh viết rằng: "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu (có), hữu sinh ư vô (không)". Vậy Nhất là Không, Nhị là Có, Tam là tổng hợp lại có với không, để nói lên quá trình sinh thành của vũ trụ. Lối giải thích như vậy, có đúng với sự thật hay không, là vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học. Riêng với nhà triết học, nhất là nhà triết học thời cổ, họ chẳng màng xét tới mà chỉ nghĩ rằng, phải có một lối giải thích nào cho trật tự vạn tượng bao la trong vũ trụ, cùng với quá trình sinh thành của vạn vật Trách nhiệm của triết gia chỉ thế thôi, đó là vũ trụ quan của Lão Tử, tuy quá đơn giản, nhưng rất khách quan và "vô lình", gần gũi với tinh thần khoa học, trái với vũ trụ quan "hữu hình", mà đời sau được đa số người Trung Quốc chấp nhận, theo quan điểm Nho học. Nếu chúng ta có hỏi thêm, tại sao Một có thể sinh ra Hai, và Hai sinh ra Ba, thì Lão Tử bảo rằng: "Phản giả Đạo chi động". (Sức tương phản, là nguyên động lực của Đạo) và rằng: "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô". (vạn vật trong thiên hạ được sinh ra từ chỗ Có. mà Có thì lại sinh ra từ chỗ không). Theo lời giải thích đó thì cần phải có thành phần tương phản. làm cho Đạo có được "nguyên động lực để tác khởi. Sỡ dĩ bảo "Có” sinh ra từ chỗ “Không” là bởi "Có" với “Không” vốn dĩ tương phản với nhau.
Nói chung, tư tưởng của Lão Từ gồm có những đặc điểm sau đây:
1/- Chống xã hội đương thời. Theo nhận xét của các nhà xã hội học, thời Xuân Thu Chiến quốc là lúc Trung Quốc bước vào giai đoạn xã hội biến thiên trọng đại. Khi một con người cảm thấy khó thích ứng với cuộc diện thay đổi trọng đại đó, họ sẽ phản ứng ra sao? Phương thức của nhà Nho, đứng đầu là Khổng Tử, gồm cả Mạnh Tử sau này, thì một mặt mong muốn trở lại với quy phạm hành vi nguyên thủy, như duy trì quy tắc lôn pháp dưới chế độ phong kiến nhà Chu; đồng thời mặt khác,sáng tạo nấc thang giá trị mới. Mong được xã hội công nhận, như cổ súy, đề cao đức tính Nhân Ái luân lý Trung Hiếu. Còn phương thức của Đạo gia, đứng đầu là Lão Tử, gồm cả Trang Tử sau này, thì bài bác, chống phá trật tự xã hội hiện hữu bằng hành vi tích cực, hoặc tự đặt mình ra ngoài vòng xã hội đó, bằng hành vi tiêu cực, như đi ẩn náu, mai danh lánh nạn chẳng hạn. Xuyên qua lời nói và trước tác (như Đạo Đức Kinh), người ta thấy Lão Tử luôn luôn giữ thái độ đả kích tập tục và chế độ xã hội đương thời, khiến cho tư tưởng và hành vi của Người, nhất nhất đều trái ngược với tình trạng thực tế trong lúc đó. Lúc đó là thời đại hiếu chiến, nước nào cũng lo tăng cường binh bị thì Lão Tử bảo rằng: “Giai binh giả bất tường chi khí”. (Quân lực mạnh, là thứ chẳng lành), và rằng: "Dĩ Đạo tá nhân chủ giả, bất dĩ binh cưỡng thiên hạ". (Kẻ biết dùng Đạo mà phò chúa, thì chẳng lấy chiến tranh làm phương tiện, để cưỡng bức thiên hạ). Đang lúc phần tử trí thức đua nhau chu du liệt quốc, ai nấy cố gắng thuyết phục vua chúa các nước chấp nhận ý kiến của mình, mong có thể làm được cái gì đó, thì Lão Tử lớn tiếng cảnh cáo họ rằng: "Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự, kịp kỳ hữu sự, bất túc dĩ thủ thiên hạ". (Được thiên hạ thường là chẳng gây nên chuyện, nếu đã gây nên chuyện, thì không đủ tư cách để được thiên hạ). Đó là lý tưởng chính trị trong thuyết "Vô vi" của Lão Tử.
2/- Phản kinh nghiệm, phản ta thức. Lão Tử viết: "Tuyệt học vô tư . (Có bỏ học mới hết ưu phiền); "Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn". (Càng có học cho lắm, càng có hại cho việc tu Đạo); "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri". (Người có học vấn chẳng bao giờ nói, kẻ hay nói mới là người không hiểu biết), Sở dĩ phải phản kinh nghiệm, phản trí thức, theo Lão Tử có hai lý do: Một là kinh nghiệm và trí thức khiến cho người ta hay lo âu, cho nên bảo "Tuyệt học vô tư ; hai là, kinh nghiệm và trí thức gây trở ngại cho việc tu Đạo, bởi lẽ hiểu biết nhiều chừng nào, thì càng thúc đẩy lòng ham muốn, đòi hỏi của người ta, đồng thời cũng dễ làm cho người ta nảy sinh cảm giác bất mãn với hiện tại, cho nên đã báo "Học nhiên hậu tri bất túc” (Câu này có nghĩa là: Học mà biết cho nhiều, rồi mới thấy đời người hãy còn thiếu lắm thứ quá. Lâu nay người ta thường hiểu ìâm là: Càng học càng thấy sự hiểu biết của mình hãy còn non kém). Bởi Lão Tử nhận định ràng, việc tu Đạo cần phải tĩnh mịch, đạm bạc, đẹp hết lòng ham muốn đi mới được. Nghĩa là Đạo của Lão Tử chẳng có liên hệ gì tới trí thức và kinh nghiệm cả, mà là thứ công phu thủ tĩnh, quả dục, đặng có thể đạt tới cảnh giới thanh tịnh, vô vi. Trở lại câu "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri". Cần phải hiểu ý nghĩa chữ "Tri" này là thứ tri trực giác, chẳng học mà tự mình ngộ ra chân lý của trời đất. Sở dĩ sau hai triều nhà Hán, Nho, Đạo và Thích, tam giáo có thể kết hợp nhau được, là thông nhau ở chỗ thanh tĩnh quả dục.
3/- Chất phác quy chân. Đây là đời sống lý tưởng của Lão Tử và tất cả những ai, là người tu Đạo chân chính. Bối cảnh dựng lên lý tưởng này có hai mặt: Về mặt chính trị, là thái độ ghét bỏ hành động bạo lực và đời sống xa xỉ, tâm tư dối trá của tầng lớp quyền thế trong xã hội đương thời; về mặt cá nhân đã gọi là "Ẩn quân tử", thì chất phác quy chân (Đời sống đơn giản bình dị, trở về với chân thật, với thiên nhiên), mới thật là đúng với cảnh sống mà Lão Tử hằng mơ ước.
4/- Công thành phất cư. Đây là nguyên tắc ở đời mà Lão Tử đem ra dạy đời. Đời bao giờ cũng khuyến khích người ta, gắng sức làm để được hưởng thành quả tốt đẹp, do công lao của mình tạo nên. Nhưng Lão Tử cho rằng, mọi thành quả đó, rất có thể đưa lại tai họa cho con người. Lão Tử bảo: "Sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trường nhi bất tể, thi vi nguyên đức". (Sống mà không giữ của, làm mà chẳng ỷ công, dù lớn cũng không đứng làm chủ tể, đó mới là cái đức nguyên vẹn) và rằng: "Công toại thân thoái, thiên chi đạo". (Khi đã đạt tới thành quả rồi thì rút lui ngay, là đúng với lẽ trời) và "Vi giả bại chi, chấp giả thất chi". (Kẻ ham làm sẽ gặp thất bại, kẻ ôm giữ sẽ bị mất mát). Vê điểm này Phạm Lãi làm được, Văn Chủng làm không được. Cả hai đều là công thần của Việt Vương Câu Tiễn, lịch sử đã chứng minh ai họa ai phước.
5/- Họa phước vô môn. Tránh họa cầu phước, là lẽ thường tình của con người, nhưng Lão Tử cho rằng, cái lẽ đó không chắc chắn. Bởi trong quá trình đời người, đâu là họa đâu là phước, thật khó nói lắm. Lão Tử bảo rằng, họa ư, lắm khi phước nhờ đó mà có; phước ư, biết đâu đó là căn nguyên của họa. Cho nên đã có chuyện "Tái ông thất mã, yên tri phi phúc".
6/- Dĩ nhu khắc cương. Lão Tử tin rằng "Nhu nhược thắng cương cường", và giải thích rằng: "Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng". (Dưới bầu trời này, còn thứ gì yếu mềm hơn nước, thế mà kẻ mạnh phá được thành trì kiên cố, cũng chẳng thể thắng nổi nước). Thuyết "Nhu khắc cương", hẳn là một trong những đặc điểm của triết lý Lão Tử.
Tư tưởng của Lão Tử rất thích hợp với những ai, là kẻ ưa sống gần gũi thiên nhiên,lại có phần tương thông với đức tính khiêm nhường, dung thứ, nhẫn nại của nhà Nho. Do đó, người theo Đạo học thích sống vào nơi thâm sơn cùng cốc, tĩnh tịch, xa lánh bụi trần tự tay kiếm ăn, tự mình chữa bệnh, người đời gọi đó là "Tu Tiên", mang sắc thái huyền bí như một tôn giáo, cho nên thường gọi là "Đạo giáo".
3. Giá Trị Đạo Học
Đạo của Lão Tử vạch một lối thoát cho những ai, là kẻ bất mãn thế cuộc nhiễu nhương, đầy cạm bẫy như thời Xuân Thu Chiến Quốc, có được một lẽ sống riêng, hợp với bản chất chân thật của mình. Đồng thời tránh được lối phản kháng bằng hành động phạm pháp cá nhân, hoặc bạo lực tập thể, khiến cho xã hội mà mình đã bất mãn càng thêm hỗn loạn, rối ren. Đó là giá trị về xã hội.
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, đang lúc vua quan các nước thực thi chính sách kiêm tính, để trở thành nước lớn, khả dĩ "kẹp thiên tử nhi lệnh chư hầu . (Uy hiếp nguyên thủ trung ương, chỉ huy các nước địa phương). Đồng thời, phần tử trí thức cũng chủ trương “định ư nhất”, mong sao thực hiện được lý tưởng thiên hạ thống nhất thịnh trị, thì ngược lại, Lão Tử chủ trương "Tiểu quốc quả dân" (Nước nhỏ dân ít). Người cho rằng, với nước nhỏ dân thưa, thì ít có tranh chấp và dễ trị. Nhà nước chẳng phải nhọc lòng làm gì mà dân vẫn tự sống an lành. Lý luận đó của Lão Tử, lúc bấy giờ chẳng ai nghe theo, cả Khổng Tử cũng chẳng tin. Nào ngờ thế giới ngày nay lại có lối tư duy mới, chẳng hẹn mà gặp nhau với Lão Tử. Sau thời kỳ "Chiến tranh lạnh", có nhiều xứ khác nhau về dân tộc, tôn giáo trong cùng một quốc gia, đang đua nhau đứng lên tranh đấu, giành quyền độc lập tự chủ, như các nước cộng hòa trong Liên bang Sô viết, liên bang Nam Tư và khối dân miền bắc Iraq, ấn Độ hiện nay, cũng như Mông Cổ, Tây Tạng của Trung Quốc từ trước. Trực diện với vấn đề này, quốc tế tuy chẳng tiện can dự trực tiếp, nhưng cũng không phản đối, thậm chí còn khuyến khích một cách gián tiếp nữa là khác. Đó là giá trị về chính trị.
Tuy nhiên, thuyết "vô vi" của Lão Tử dễ bị người ta mượn cớ trốn tránh trách nhiệm, nhất là những người công chức ăn lương nhà nước, lại có tâm lý tiêu cực, họ bảo nhau: "Ít làm ít lỗi, chẳng làm thì không có lỗi".
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, đang lúc vua quan các nước thực thi chính sách kiêm tính, để trở thành nước lớn, khả dĩ "kẹp thiên tử nhi lệnh chư hầu . (Uy hiếp nguyên thủ trung ương, chỉ huy các nước địa phương). Đồng thời, phần tử trí thức cũng chủ trương “định ư nhất”, mong sao thực hiện được lý tưởng thiên hạ thống nhất thịnh trị, thì ngược lại, Lão Tử chủ trương "Tiểu quốc quả dân" (Nước nhỏ dân ít). Người cho rằng, với nước nhỏ dân thưa, thì ít có tranh chấp và dễ trị. Nhà nước chẳng phải nhọc lòng làm gì mà dân vẫn tự sống an lành. Lý luận đó của Lão Tử, lúc bấy giờ chẳng ai nghe theo, cả Khổng Tử cũng chẳng tin. Nào ngờ thế giới ngày nay lại có lối tư duy mới, chẳng hẹn mà gặp nhau với Lão Tử. Sau thời kỳ "Chiến tranh lạnh", có nhiều xứ khác nhau về dân tộc, tôn giáo trong cùng một quốc gia, đang đua nhau đứng lên tranh đấu, giành quyền độc lập tự chủ, như các nước cộng hòa trong Liên bang Sô viết, liên bang Nam Tư và khối dân miền bắc Iraq, ấn Độ hiện nay, cũng như Mông Cổ, Tây Tạng của Trung Quốc từ trước. Trực diện với vấn đề này, quốc tế tuy chẳng tiện can dự trực tiếp, nhưng cũng không phản đối, thậm chí còn khuyến khích một cách gián tiếp nữa là khác. Đó là giá trị về chính trị.
Tuy nhiên, thuyết "vô vi" của Lão Tử dễ bị người ta mượn cớ trốn tránh trách nhiệm, nhất là những người công chức ăn lương nhà nước, lại có tâm lý tiêu cực, họ bảo nhau: "Ít làm ít lỗi, chẳng làm thì không có lỗi".
Tags:
HỌC TẬP - NGHIÊN CỨU





